Tổng quan luận án

Công trình khoa học được mô tả là luận án tiến sĩ triết học với đề tài: "Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay (Qua khảo sát thực tế một số tỉnh phía Bắc)", do nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Thủy thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2019. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Huyên và TS Ngô Thị Thu Ngà.

Về tính cấp thiết, tác giả luận giải rằng giáo dục mầm non là một lĩnh vực lao động sư phạm mang tính đặc thù cao. Đối tượng chăm sóc và giáo dục là trẻ em dưới 6 tuổi – lứa tuổi chưa hoàn thiện về ý thức hành vi, nhận thức chủ yếu dựa trên tư duy trực quan hình tượng và cảm xúc. Giáo viên mầm non không chỉ thực hiện chức năng giảng dạy đơn thuần mà còn đảm nhận vai trò nuôi dưỡng, bảo vệ, định hình những nét nhân cách và giá trị đạo đức ban đầu cho trẻ. Quan điểm của K.Usinxki khẳng định việc giáo dục trẻ em hoàn toàn phụ thuộc vào nhân cách của người giáo dục; cùng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thế thì phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ chịu khó mới nuôi dạy được các cháu... Dạy trẻ cũng như trồng cây non".

Sau hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những bước phát triển về quy mô và chất lượng đội ngũ, mặt trái của kinh tế thị trường đã làm nảy sinh lối sống thực dụng, coi trọng giá trị vật chất, đề cao lợi ích cá nhân và làm suy giảm trách nhiệm xã hội ở một bộ phận giáo viên. Sức ép từ nhu cầu gửi trẻ ngày càng tăng trong bối cảnh cơ sở vật chất còn thiếu thốn, sự chậm đổi mới về nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức tại các cơ sở đào tạo, cùng những hạn chế trong tự tu dưỡng đã dẫn đến tình trạng một bộ phận giáo viên thiếu lý tưởng, nhũng nhiễu phụ huynh, thậm chí xảy ra các vụ bạo hành trẻ em gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Về mục đích nghiên cứu, trên cơ sở lý luận về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non, luận án khảo sát làm rõ thực trạng đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ này ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở nước ta trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm bốn nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Làm rõ những vấn đề lý luận về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam.
  3. Phân tích, làm rõ thực trạng đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó (qua khảo sát thực tế một số tỉnh ở phía Bắc hiện nay).
  4. Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay.
  • Khách thể nghiên cứu: Giáo viên trực tiếp làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non. Các nhóm đối tượng khác như cán bộ quản lý giáo dục mầm non, nhân viên cấp dưỡng chỉ được đề cập trong mối liên hệ với các chuẩn mực đạo đức, nhân tố tác động và giải pháp liên quan.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế tại một số tỉnh phía Bắc, gồm 4 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ninh, với dung lượng mẫu là 384 giáo viên mầm non tại 16 trường mầm non.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát từ năm 2008 đến năm 2017, mốc thời gian bắt đầu từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và phân tích tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

Nhóm nội dung Các tác giả, công trình tiêu biểu được điểm luận Nội dung học thuật đã đạt được
Lý luận về đạo đức, đạo đức nghề nghiệp và đạo đức nhà giáo C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, A. Siskin, G. Bandzeladze, A.G. Xpirkin; Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Thế Kiệt, Trần Đăng Sinh, Nguyễn Thị Thọ, Trần Hậu Kiêm, Vũ Văn Thuấn, Trần Ngọc Linh, Nguyễn Văn Phúc, Lê Trọng Ân; Nguyễn Thanh Bình (đề tài cấp bộ), Trần Khánh Đức, Ngô Văn Hà, Hà Thị Thùy Dương, Bùi Văn Mạnh, Bùi Mạnh Phong, Hoàng Anh; H. Wallon, D.B. Elkonin, A. Venger, V.A. Xukhomlinxki, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết, Hồ Lam Hồng, Đinh Thị Kim Thoa, Phan Thị Hoa, Trần Thị Thanh. Xác định bản chất đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội; làm rõ cấu trúc nhân cách người thầy gồm phẩm chất và năng lực; phân tích đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mầm non (dưới 6 tuổi) và yêu cầu đạo đức đặc thù của người giáo viên mầm non.
Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của giáo viên trong kinh tế thị trường Thái Duy Tuyên, Phạm Minh Hạc (các đề tài cấp nhà nước); Nguyễn Chí Mỳ, Lê Thị Tuyết Ba, Nguyễn Thế Kiệt; Võ Minh Tuấn, Phạm Văn Đức, Nguyễn Huy Phòng, Hoàng Thúc Hào, Lê Thị Thu Diệu, Võ Ngọc Lan, Nam Việt, Nguyễn Văn Hòa, Hoàng Thị Phương; Trịnh Viết Then và Nguyễn Thị Minh (nghiên cứu khảo sát 635 giáo viên mầm non tại TP. Hồ Chí Minh). Phân tích tác động hai mặt của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đến chuẩn mực giá trị; chỉ ra áp lực công việc, hiện tượng stress nghề nghiệp (38% stress thấp, 13,1% stress thấp, 2,8% stress cao, 0,6% stress rất cao) và những biểu hiện suy thoái đạo đức, vi phạm quy chế chuyên môn.
Phương hướng, giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp nhà giáo Phạm Tất Dong (Đề tài KX.04-06), Phạm Minh Hạc, Đặng Bá Lâm, Nguyễn Duy Quý, Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo, Trịnh Duy Hưng, Trần Bá Hoành; Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Thị Thu Huyền, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Văn Công, Phạm Thị Loan. Đề xuất giải pháp đồng bộ về kinh tế, chính trị, giáo dục; cải cách tiền lương và chế độ đãi ngộ; đổi mới chương trình đào tạo sư phạm; tăng cường giáo dục chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Mặc dù đã có nhiều công trình tiếp cận đạo đức nhà giáo dưới góc độ giáo dục học, tâm lý học hoặc xã hội học, song cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ Triết học (chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử) về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non và vai trò của vấn đề này trong giáo dục mầm non ở Việt Nam hiện nay. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống khái niệm, luận giải các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non qua 4 mối quan hệ xã hội cơ bản, phân tích thực trạng qua khảo sát thực tế và đề xuất hệ thống giải pháp triết học - xã hội mang tính đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bắt nguồn từ tồn tại xã hội, phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất và phương thức sản xuất của xã hội. Luận án vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chuẩn mực người thầy giáo và vai trò của giáo dục mầm non; cùng các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo và xây dựng con người mới.

Hệ thống khái niệm công cụ được tác giả chuẩn hóa bao gồm:

  • Đạo đức: Hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và với xã hội, được thực hiện bằng niềm tin cá nhân, truyền thống dân tộc và sức mạnh dư luận xã hội.
  • Đạo đức nghề nghiệp: Hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức của một nghề nghiệp cụ thể mà các thành viên tự đánh giá, điều chỉnh nhận thức và hành vi phù hợp với nhu cầu, lợi ích và sự tiến bộ xã hội.
  • Giáo viên mầm non: Người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ trường mầm non.
  • Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non: Hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức mà giáo viên mầm non cần có khi hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc trẻ mầm non, quy định và điều chỉnh nhận thức, hành vi ứng xử, thái độ nhằm hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ.

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét đạo đức nghề nghiệp trong sự vận động, phát triển gắn liền với các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; khái quát hóa; lý luận gắn liền với thực tiễn; và phương pháp điều tra xã hội học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Nguồn tư liệu văn bản: Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin; Hồ Chí Minh toàn tập; các văn kiện của Đảng; các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Giáo dục (2005, sửa đổi 2018); Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ban hành Điều lệ trường mầm non; Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo; Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non; Nghị định số 244/2005/QĐ-TTg; Nghị định số 54/2011/NĐ-CP; Quyết định số 1677/QĐ-TTg ngày 03/12/2018 phê duyệt Đề án phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2018 - 2025; Chỉ thị 8077/2007/CT-BGD&ĐT và Chỉ thị 505/CT-BGD&ĐT ngày 20/02/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Dữ liệu thực nghiệm: Kết quả khảo sát thực tế bằng phiếu điều tra xã hội học đối với 384 giáo viên mầm non tại 16 trường mầm non thuộc 4 tỉnh, thành phố phía Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ninh) trong giai đoạn 2008 - 2017.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, 4 chương (12 tiết), Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra đối với luận án

Chương này triển khai 4 tiết nội dung:

  • Tiết 1.1: Những công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về đạo đức, đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non.
  • Tiết 1.2: Những công trình nghiên cứu về thực trạng đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay.
  • Tiết 1.3: Những công trình nghiên cứu về phương hướng, giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay.
  • Tiết 1.4: Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án.

Luận điểm chính của chương là phân loại và đánh giá có hệ thống các công trình trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây đã làm rõ khái niệm đạo đức nói chung, một số khía cạnh đạo đức nhà giáo và tâm lý học trẻ mầm non, cũng như chỉ ra áp lực nghề nghiệp và tác động của cơ chế thị trường. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non dưới góc độ triết học Mác - Lênin. Từ đó, tác giả xác định ba nhiệm vụ khoa học cần tiếp tục giải quyết: xây dựng lý luận chuyên sâu về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp giáo viên mầm non; phân tích thực trạng và nguyên nhân qua số liệu khảo sát thực tế; và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ này.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam

Chương 2 gồm 3 tiết nội dung:

  • Tiết 2.1: Đạo đức nghề nghiệp và tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non.
  • Tiết 2.2: Nội dung những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam.
  • Tiết 2.3: Những nhân tố tác động tới đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non.

Tại tiết 2.1, tác giả luận giải 4 đặc thù cơ bản cấu thành đạo đức nghề nghiệp của người giáo viên mầm non:

  1. Quý trẻ, yêu nghề: Đây là phẩm chất nền tảng nhất; mối quan hệ giữa cô và trẻ vừa mang tính chất thầy - trò, vừa mang tính chất mẹ - con và bạn bè. Tình yêu trẻ là động lực để giáo viên gắn bó với nghề dạy học và nuôi dưỡng con người.
  2. Kiên nhẫn, biết tự kiềm chế: Đối tượng giáo dục là trẻ nhỏ nhạy cảm, dễ xúc động, nhận thức chưa phát triển đầy đủ. Giáo viên phải bền bỉ, kiềm chế sự bực tức, nóng giận trước các tình huống trẻ không vâng lời hoặc làm hỏng đồ dùng, đồ chơi.
  3. Có tinh thần trách nhiệm cao: Luôn tận tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ chăm sóc, bảo đảm tuyệt đối an toàn tính mạng và sức khỏe cho trẻ, không làm việc cẩu thả, qua loa.
  4. Có kỹ năng ứng xử sư phạm khéo léo: Khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo các phương pháp giáo dục đối với từng trẻ, tạo cảm giác an toàn, tin cậy và xây dựng mối quan hệ tốt với phụ huynh học sinh.

Tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp được phân tích trên ba bình diện: (1) Đóng vai trò hạt nhân trong việc hoàn thiện nhân cách người thầy, bảo đảm sự thống nhất hữu cơ giữa "đức" và "tài"; (2) Là mục tiêu, động lực tinh thần giúp giáo viên vượt qua áp lực và khó khăn về đời sống vật chất để hoàn thành nhiệm vụ "trồng người"; (3) Giữ chức năng giáo dục, nêu gương, thiết lập chuẩn mực đạo đức trực quan cho trẻ noi theo và là "bộ lọc" các giá trị văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tại tiết 2.2 và 2.3, luận án xây dựng nội dung các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non thể hiện qua 4 mối quan hệ nền tảng:

  • Quan hệ với trẻ mầm non: Tôn trọng, công bằng, bao dung, yêu thương và bảo đảm an toàn cho trẻ.
  • Quan hệ với đồng nghiệp: Đoàn kết, thân ái, tương trợ, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau.
  • Quan hệ với phụ huynh học sinh, cộng đồng và xã hội: Tôn trọng, phối hợp chặt chẽ, khiêm tốn, trung thực, tránh vụ lợi cá nhân.
  • Quan hệ với bản thân: Ý thức tự trọng nghề nghiệp, trung thực, cần cù, khiêm tốn, không ngừng tự học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và tu dưỡng phẩm chất.

Đồng thời, luận án chỉ rõ hai nhóm nhân tố tác động: Nhóm nhân tố khách quan (điều kiện kinh tế - xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường, hệ thống văn bản pháp lý, chế độ chính sách tiền lương, điều kiện cơ sở vật chất trường lớp và môi trường dư luận xã hội) và Nhóm nhân tố chủ quan (nhận thức, nhu cầu, động cơ nghề nghiệp, năng lực tự ý thức và nỗ lực tự rèn luyện của bản thân người giáo viên).

Chương 3: Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân cơ bản và những vấn đề đặt ra (Qua khảo sát thực tế một số tỉnh phía Bắc)

Chương 3 gồm 3 tiết nội dung:

  • Tiết 3.1: Thành tựu và những hạn chế trong đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay.
  • Tiết 3.2: Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế trong đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay.
  • Tiết 3.3: Những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay.

Dựa trên dữ liệu khảo sát 384 giáo viên mầm non tại 16 trường mầm non thuộc 4 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ninh) giai đoạn 2008 - 2017:

  • Về thành tựu: Phần lớn giáo viên mầm non giữ vững bản lĩnh chính trị, chấp hành đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước; yêu thương, tận tụy chăm sóc trẻ; duy trì lối sống lành mạnh; đoàn kết tương trợ đồng nghiệp và giữ gìn phẩm cách nhà giáo dù điều kiện làm việc vất vả và chế độ đãi ngộ còn nhiều khó khăn.
  • Về hạn chế: Còn một bộ phận giáo viên mầm non biểu hiện sa sút ý chí phấn đấu, thiếu tâm huyết với nghề, xem việc dạy học đơn thuần là phương tiện mưu sinh. Xuất hiện hành vi thiếu công bằng, phân biệt đối xử giữa các trẻ dựa trên điều kiện kinh tế của phụ huynh; hiện tượng nhũng nhiễu, gợi ý quà cáp; vi phạm quy chế chuyên môn và quy chuẩn sư phạm, cá biệt xảy ra các vụ bạo hành thể xác và tinh thần trẻ em.
  • Về nguyên nhân:
    • Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường kích thích lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất; thu nhập và chế độ phụ cấp ưu đãi nghề chưa tương xứng với cường độ lao động (thời gian làm việc kéo dài từ sáng sớm đến chiều muộn); tình trạng quá tải sĩ số học sinh trên lớp trong khi cơ sở vật chất, đồ chơi, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn; công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý tại một số cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập còn buông lỏng.
    • Nguyên nhân chủ quan: Bản thân một số giáo viên thiếu ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện; năng lực tự kiềm chế cảm xúc kém; hạn chế về kỹ năng xử lý tình huống sư phạm; công tác giáo dục đạo đức tại các trường đào tạo sư phạm mầm non còn nặng về lý thuyết, chậm đổi mới phương pháp.
  • Hai vấn đề đặt ra cần giải quyết:
    1. Giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp với thực tế điều kiện làm việc quá tải, áp lực tâm lý và chế độ đãi ngộ còn nhiều bất cập đối với giáo viên mầm non.
    2. Xử lý mối quan hệ giữa việc tăng cường quản lý, kiểm tra, chấn chỉnh kỷ cương pháp luật của Nhà nước với việc phát huy tính tự giác, nội tâm hóa các chuẩn mực đạo đức của mỗi nhà giáo trong hoạt động thực tiễn.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 gồm 2 tiết nội dung:

  • Tiết 4.1: Phương hướng.
  • Tiết 4.2: Những giải pháp chủ yếu nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở Việt Nam hiện nay.

Về phương hướng, tác giả xác định việc nâng cao đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non phải quán triệt đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng; gắn kết việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết hợp giữa kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống của nhà giáo Việt Nam với việc tiếp thu có chọn lọc các giá trị chuẩn mực hiện đại; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức với quản lý bằng pháp luật và quy chế ngành.

Về hệ thống giải pháp chủ yếu, luận án đề xuất các nhóm giải pháp:

  1. Nâng cao nhận thức của xã hội, các cấp quản lý và bản thân giáo viên về vị trí, vai trò của giáo dục mầm non và đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non.
  2. Đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên mầm non tại các cơ sở đào tạo sư phạm cũng như trong các hoạt động bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuyên đề hè.
  3. Hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, bảo đảm chế độ tiền lương, phụ cấp ưu đãi nghề và cải thiện điều kiện làm việc, giảm tải áp lực lao động sư phạm cho giáo viên mầm non (thực hiện tốt Nghị định 244/2005/QĐ-TTg, Nghị định 54/2011/NĐ-CP và Quyết định 1677/QĐ-TTg).
  4. Xây dựng môi trường văn hóa sư phạm dân chủ, lành mạnh trong các trường mầm non; phát huy vai trò giám sát, phối hợp của tổ chức Đảng, đoàn thể, ban đại diện cha mẹ học sinh và các cơ quan truyền thông xã hội.
  5. Phát huy tính tích cực, chủ động, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của mỗi giáo viên mầm non trong hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ hằng ngày.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ và hệ thống hóa quan niệm triết học mác-xít về đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non. Luận án đã xây dựng định nghĩa, chỉ ra 4 đặc thù đạo đức nghề nghiệp cơ bản của giáo viên mầm non, luận chứng 3 vai trò quan trọng của đạo đức nghề nghiệp đối với sự phát triển nhân cách nhà giáo, và phân tích có hệ thống cấu trúc các chuẩn mực đạo đức của đội ngũ này trong 4 mối quan hệ xã hội nền tảng (với trẻ em, đồng nghiệp, phụ huynh/xã hội và bản thân).

Về mặt thực tiễn, luận án đã phác họa bức tranh thực trạng đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non thông qua việc khảo sát 384 giáo viên tại 16 trường mầm non thuộc 4 tỉnh, thành phố phía Bắc giai đoạn 2008 - 2017. Luận án đã chỉ rõ thành tựu, các biểu hiện suy thoái đạo đức nghề nghiệp, phân tích hệ thống nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ đó xác định 2 vấn đề cơ bản đặt ra cần giải quyết. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống phương hướng và các giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên mầm non trong giai đoạn hiện nay.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất, luận án kiến nghị:

  • Đối với Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành quy chế đánh giá chuẩn nghề nghiệp phù hợp thực tiễn; tăng cường đầu tư ngân sách xây dựng cơ sở vật chất, giảm tỷ lệ trẻ/lớp; điều chỉnh chính sách tiền lương và nâng cao phụ cấp thâm niên, phụ cấp ưu đãi ngành nhằm bảo đảm đời sống vật chất ổn định cho giáo viên mầm non theo tinh thần Quyết định 1677/QĐ-TTg.
  • Đối với các cơ sở đào tạo sư phạm: Cải tiến chương trình giảng dạy Đạo đức học và Giáo dục học mầm non; kết hợp trang bị kiến thức chuyên môn với rèn luyện kỹ năng ứng xử sư phạm, kỹ năng kiềm chế cảm xúc và giải tỏa stress.
  • Đối với các trường mầm non và bản thân giáo viên: Thiết lập môi trường làm việc dân chủ, tương trợ; loại bỏ bệnh thành tích trong thi đua; mỗi giáo viên phải nâng cao ý thức tự soi, tự sửa, nêu cao lương tâm nghề nghiệp, thực hiện văn hóa ứng xử chuẩn mực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn về nguồn lực và phạm vi nghiên cứu của một luận án tiến sĩ triết học, địa bàn khảo sát thực tế của tác giả mới tập trung tại 4 tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Bắc (Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Quảng Ninh) với cỡ mẫu 384 giáo viên tại 16 trường mầm non. Khung thời gian khảo sát dừng lại ở giai đoạn 2008 - 2017 gắn liền với thời gian thực hiện Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT. Đối tượng khảo sát tập trung chủ yếu vào giáo viên trực tiếp đứng lớp, chưa mở rộng điều tra chuyên sâu đối với cán bộ quản lý giáo dục mầm non và nhân viên nuôi dưỡng, cấp dưỡng.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu trong tương lai có thể:

  • Mở rộng phạm vi địa bàn khảo sát thực nghiệm sang các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, miền Nam và đặc biệt là các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo để có cái nhìn toàn diện mang tính đại diện quốc gia.
  • Mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu giai đoạn từ năm 2018 trở đi, gắn với việc triển khai các văn bản quy phạm pháp luật mới (như Thông tư 26/2018/TT-BGDĐT ban hành Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non thay thế Quyết định 02/2008/QĐ-BGDĐT).
  • Nghiên cứu so sánh chuyên sâu về thực trạng đạo đức nghề nghiệp giữa các mô hình trường mầm non công lập, tư thục và các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các nhà hoạch định chính sách giáo dục và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở và Phòng Giáo dục và Đào tạo): Luận án cung cấp luận cứ triết học - thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các chính sách đãi ngộ, chế độ làm việc và hoàn thiện quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên mầm non.
  • Đối với các trường đại học, cao đẳng sư phạm đào tạo ngành Giáo dục Mầm non: Nội dung Chương 2 và Chương 4 là tài liệu tham khảo trực tiếp phục vụ biên soạn giáo trình, bài giảng các môn Đạo đức học mác-xít, Giáo dục học mầm non, Tâm lý học sư phạm và các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Đạo đức học, Giáo dục học: Luận án cung cấp khung lý thuyết tiếp cận đạo đức nghề nghiệp từ góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng phương pháp thiết kế công cụ điều tra xã hội học và xử lý tài liệu liên ngành giữa triết học và khoa học giáo dục.
  • Đối với cán bộ quản lý và giáo viên tại các cơ sở mầm non: Các chuẩn mực hành vi trong 4 mối quan hệ được luận án xác định là cẩm nang giúp giáo viên tự đánh giá, điều chỉnh hành vi và rèn luyện nhân cách trong hoạt động thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non như thế nào?
Luận án xác định đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non là hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức mà giáo viên mầm non cần có khi hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và chăm sóc trẻ mầm non, quy định và điều chỉnh nhận thức, hành vi ứng xử, thái độ của giáo viên nhằm hình thành nhân cách tốt đẹp cho trẻ mầm non.

2. Theo tác giả, đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non có những đặc thù cơ bản nào?
Luận án phân tích 4 nét đặc thù cơ bản: (1) Quý trẻ, yêu nghề; (2) Kiên nhẫn, biết tự kiềm chế; (3) Có tinh thần trách nhiệm cao; (4) Có kỹ năng ứng xử sư phạm khéo léo. Những đặc thù này xuất phát từ việc đối tượng chăm sóc là trẻ em dưới 6 tuổi, hoạt động dựa trên tư duy trực quan và hành vi cảm xúc bản năng.

3. Khảo sát thực tế của luận án được thực hiện với quy mô mẫu và tại những địa bàn nào?
Tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế trên mẫu gồm 384 giáo viên mầm non tại 16 trường mầm non thuộc 4 tỉnh, thành phố phía Bắc gồm: Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định và Quảng Ninh, trong giai đoạn thời gian từ năm 2008 đến năm 2017.

4. Luận án phân tích chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non qua các mối quan hệ nào?
Hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non được tác giả xem xét trong 4 mối quan hệ xã hội cơ bản: (1) Quan hệ với trẻ mầm non; (2) Quan hệ với đồng nghiệp; (3) Quan hệ với phụ huynh học sinh, cộng đồng và xã hội; (4) Quan hệ với bản thân giáo viên.

5. Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng suy thoái đạo đức ở một bộ phận giáo viên mầm non là gì?
Luận án chỉ ra hai nhóm nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan gồm tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường (lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất), thu nhập và chế độ phụ cấp chưa tương xứng với thời gian và cường độ làm việc quá tải, cơ sở vật chất trường lớp thiếu thốn; Nguyên nhân chủ quan gồm sự thiếu ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện của bản thân giáo viên, năng lực kiềm chế cảm xúc hạn chế, và sự chậm đổi mới về nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức tại các trường đào tạo sư phạm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Thủy là công trình khoa học tiếp cận vấn đề đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Thông qua việc phân tích lý luận gắn liền với số liệu điều tra thực tế 384 giáo viên tại 4 địa phương phía Bắc trong giai đoạn 2008 - 2017, luận án đã làm rõ các chuẩn mực, đánh giá khách quan thành tựu cùng những hạn chế, bất cập trong thực tiễn thực hiện đạo đức nghề nghiệp. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ về kinh tế, chính trị, giáo dục và tự tu dưỡng, cung cấp luận cứ khoa học cho công tác xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở Việt Nam.