chương I, mục 1.1 và thông qua phương pháp điền dã, phỏng vấn sâu xây dựng thành 3 phần chính để đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch về đạo đức kinh doanh du lịch của các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống như sau: Phần thông tin chung: thu thập thông tin về hoạt động du lịch của du khách và nhu cầu dịch vụ cho ăn uống. Phần đánh giá mức độ hài lòng về đạo đức kinh doanh dịch vụ ăn uống của các cơ sở kinh doanh với 6 tiêu chí đánh giá (chương II) gồm:thái độ phục vụ, chất lượng thực phẩm, cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật du lịch, giá cả và giá 21 c trị sản phẩm, an ninh và an toàn, môi trường tự nhiên. Đối với từng biến đo lường, thang đo được phân chia từ thấp tới cao: (1) Rất thất vọng → (2) Thất vọng → (3) Bình thường → (4) Hài lòng → (5) Rất hài lòng Phần thông tin cá nhân: thu thập thông tin về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp. Khi tiến hành điều tra, tác giả gặp một số khó khăn như hạn chế về thời gian khảo sát, trải nghiệm các dịch vụ đầy đủ của du khách và biến khảo sát được xây dựng sao cho phù hợp để thu lại được kết quả khảo sát khách quan và logic, tỷ lệ bảng hỏi hoàn chỉnh.
Chính vì vậy, tác giả khảo sát gián tiếp qua thiết kế các câu hỏi, biến quan sát dưới dạng online – survey qua ứng dụng google biểu mẫu bằng cách upload lên các trang mạng xã hội, diễn đàn. Với cách khảo sát này, tác giả có thể thu thập được nhiều ý kiến, có nhiều thời gian và phạm vi khảo sát hơn nên câu trả lời chính xác và tỷ lệ hoàn chỉnh bảng hỏi cao hơn (xem phụ lục 5). Sau khi có dữ liệu sẽ tiến hành xử lí với sự hỗ trợ của ứng dụng google biểu mẫu và đặc biệt là phần mềm SPSS 20.0 Window – công cụ hỗ trợ cho việc xử lí và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu khoa học. Với phần mềm SPSS, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp để xử lí và phân tích dữ liệu bao gồm: thống kê mô tả (tần suất và số trung bình).
Quy trình nghiên cứu Dựa trên nội dung nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu đã được lựa chọn ở trên, quy trình nghiên cứu thực tiễn được chia làm 2 giai đoạn: nghiên cứu định tính và nghiên cứu đinh lượng. Các bước trong quy trình nghiên cứu sẽ được biểu diễn dưới mô hình sau: 22 c Mô hình 1. Quy trình nghiên cứu Nguồn:Tác giả 6. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu Trong đề tài này để chọn mẫu, tác giả sử dụng công thức lấy mẫu trên cơ sở tiêu chuẩn 5:1 của Bollen (1989), tức là để đảm bảo phân tích dữ liệu tốt thì cần ít nhất 5 biến quan sát cho 1 biến đo lường và số quan sát không nên dưới 100.
Bảng khảo sát của tác giả có tổng cộng 23 biến quan sát, vì vậy mẫu tối thiểu là 23 x 5 = 115 mẫu. Trong nghiên cứu, tác giả thu về được 387 mẫu. Phân tích số liệu Các dữ liệu thu về từ bảng câu hỏi được mã hóa và nhập trên phần mềm SPSS. Với sự hỗ trợ của SPSS, sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích số liệu gồm có: chỉ số trung bình (Mean), giá trị nhỏ nhất (min), giá trị lớn nhất (max), độ lệch chuẩn (standard deviation)… + Giá trị trung bình của biến là cột mang ý nghĩa giải thích nhiều nhất, cho thấy mức độ đa số của các đối tượng khảo sát.
23 c + Độ lệnh chuẩn của biến có giá trị càng nhỏ thì số đáp án không chênh lệch nhau nhiều, và ngược lại. + Thang đo Likert 5 điểm, ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng: Giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/ n = (5-1)/5 = 0,8. Thang đo mức độ đạo đức STT Thang đo Giá trị trung bình Mức độ đạo đức 1 Rất thất vọng 1,00 - 1,80 Vô đạo đức 2 Thất vọng 1,81 - 2,60 Đạo đức thấp 3 Bình thường 2,61 - 3,40 Đạo đức bình thường 4 Hài lòng 3,41 - 4,20 Đạo đức tốt 5 Rất hài lòng 4,21 - 5,00 Đạo đức rất tốt Nguồn: Tác giả Với các mức độ của thang đo sẽ cho thấy được mức độ hài lòng của khách hàng về đạo đức kinh doanh của các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, từ đó đánh giá được mức độ đạo đức kinh doanh dịch vụ ăn uống của cơ sở kinh doanh.2 chương 2, tác giả sẽ trình bày chi tiết các bước thực hiện các phương pháp phân tích. Kết cấu khóa luận Khóa luận tốt nghiệp gồm các nội dung như sau: Phần Mở đầu gồm: Lí do, lịch sử, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi, ý nghĩa khoa học và thực tiễn, phương pháp nghiên cứu (các phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, cách chọn mẫu, thu thập dữ liệu, phân tích số liệu) và kết cấu nghiên cứu.
24 c Phần kết quả và phân tích nghiên cứu gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận: Trình bày các khái niệm về kinh doanh du lịch, đạo đức kinh doanh du lịch, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch, các biểu hiện của kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch có đạo đức, tác động của đạo đức tới kinh doanh du lịch và sự ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh tới các đối tượng tham gia hoạt động du lịch và tiểu kết chương 1. Chương 2: Tổng quan địa điểm và Kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày các vấn đề về địa điểm như vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên tự nhiên, văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt làhoạt động kinh doanh du lịch và dịch vụ ăn uống du lịch. Ngoài ra, tác giả sẽ trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu về nghiên cứu định tính, định lượng, sự hài lòng của khách du lịch về đạo đức kinh doanh của các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại Vạn Hương, Đồ Sơn; đánh giá chung về đạo đức kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch tại Vạn Hươngvà tiểu kết chương 2.
Chương 3: Giải pháp, đề xuất cho vấn đề đạo đức kinh doanh đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại phường Vạn Hương, Quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Phần kết luận:Tổng kết kết quả đạt được, đánh chung về những đóng góp và thiếu sót của đề tài nghiên cứu. Tiểu kết phần mở đầu Trong phần mở đầu, tác giả trình bày khái quát nhất về nghiên cứu của đề tài bao gồm: lí do chọn đề tài, lịch sử nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. phương pháp nghiên cứu, kết cấu của bài nghiên cứu.
Nội dung phần mở đầu thể hiện cái nhìn tổng thể về nghiên cứu và đưa ra định hướng cho toàn bộ bài nghiên cứu, là cơ sở để triển khai nghiên cứu trong những chương tiếp theo. 25 c PHẦN KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý luận về đạo đức kinh doanh dịch vụ ăn uống 1. Kinh doanh du lịch Theo PGS.
Nguyễn Phạm Hùng: “Kinh doanh du lịch là một bộ phận của kinh doanh, cũng diễn ra trong một quá trình như vậy, chỉ khác là kinh doanh du lịch chịu sự chi phối có tính đặc thù của tài nguyên, sản phẩm, thị trường và nhu cầu tiêu dùng của con người… Kinh doanh du lịch chủ yếu là kinh doanh sản phẩm, hàng hóa vô hình, kinh doanh dịch vụ du lịch. Kinh doanh du lịch là kinh doanh sản phẩm có tính dịch vụ bao gồm các ngành, nghề chủ yếu: - Kinh doanh dịch vụ lữ hành, hướng dẫn du lịch. - Kinh doanh dịch vụ hướng dẫn tham quan du lịch. - Kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch.
- Kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch. - Kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách du lịch. - Kinh doanh dịch vụ mua sắm, vui chơi giải trí du lịch. - Kinh doanh dịch vụ du lịch chữa bệnh…”8 1.
Kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch Kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, bán và phục vụ việc tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và các hàng hóa, dịch vụ đi kèm khác có thể có hoặc không như điều kiện giải trí nghe nhạc, xem biểu diễn… nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch với mục đích lợi nhuận. Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở chế biến thức ăn bao gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng-tin và bếp ăn tập thể.9 8 Nguyễn Phạm Hùng (2017), Văn hóa du lịch, Chươg V. Văn hóa kinh doanh trong du lịch, NXB. Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
26 c Các chức năng cơ bản: phục vụ thức ăn và đồ uống để đáp ứng các loại nhu cầu khác nhau của khách du lịch với mục đích chính là để đạt được sự hài lòng của du khách. Nhu cầu mà khách du lịch có thể tìm kiếm để đáp ứng là: - Sinh lý: nhu cầu của các mặt hàng thực phẩm đặc biệt - Kinh tế: nhu cần có giá trị tốt cho giá đã thanh toán - Xã hội: một bầu không khí thân thiện - Tâm lý: sự cần để tăng cường lòng tự trọng - Thuận tiện: những mong muốn cho người khác để làm từ Khi nhu cầu của khách hàng cao hơn, đòi hỏi nhiều loại hình hơn thì F&B cũng trở nên đa dạng hơn. Ở Việt Nam hiện nay chưa có sự phân chia các loại hình cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống một cách thống nhất, theo luật pháp hay theo các nghiên cứu trong nước. Chính vì vậy, tác giả dựa vào mô hình nghiên cứu “Food and Beverage Management” của Bernard Davis, Andrew Lockwood, Ioannis Pantelidis, Peter Alcott để áp dụng phân chia các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống du lịch tại Vạn Hương (xem phụ lục 6).
Đao đức kinh doanh du lịch “Đạo đức kinh doanh du lịch là sự vận dụng đạo đức xã hội vào hoạt động kinh doanh du lịch có văn hóa, có đạo đức, đề cao chủ nghĩa nhân văn trong quá trình thương mại du lịch mà còn liên quan đến yếu tố pháp luật. Lợi ích đem lại từ kinh doanh du lịch không chỉ vì mục đích cá nhân, mà còn phải mang tính cộng động, tính xã hội, thể hiện qua trách nhiệm, nghĩa vụ xã hội của kinh doanh.