Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt, danh từ là lớp thực từ giữ vai trò trung tâm với số lượng phong phú và mật độ xuất hiện dày đặc bậc nhất trong cấu trúc câu. Tuy nhiên, việc khảo sát danh từ trong hoạt động hành chức cụ thể qua các thể loại văn học vẫn là một hướng tiếp cận còn nhiều khoảng trống. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số 8 22 01 02) của tác giả Chanhthachone Khanthavong, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Nhung tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên (bảo vệ năm 2021), đã giải quyết thỏa đáng vấn đề này thông qua một khảo sát thực nghiệm quy mô lớn.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là thống kê, phân loại, miêu tả và so sánh đặc điểm của 2.750 danh từ với 16.798 lượt xuất hiện về số lượng, cấu tạo và nguồn gốc. Qua đó, công trình làm sáng tỏ sự khu biệt thi pháp giữa hai thể loại truyện và kí, đồng thời khẳng định phong cách ngôn ngữ tài hoa của nhà văn Tô Hoài. Phạm vi khảo sát bao quát 290 trang văn bản tiêu biểu, gồm 145 trang truyện với toàn bộ 45 trang tác phẩm Vợ chồng A Phủ và 100 trang Dế Mèn phiêu lưu kí, đối sánh cùng 59 trang khổ lớn tác phẩm hồi kí Chiều chiều (tương đương 145 trang quy chuẩn). Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật sâu sắc khi cung cấp các chỉ số định lượng khách quan: mật độ danh từ đạt trung bình 9,5 từ trên mỗi trang và tần suất xuất hiện trung bình 57,9 lượt trên mỗi trang, tạo tiền đề vững chắc cho việc ứng dụng ngôn ngữ học thống kê vào nghiên cứu văn bản nghệ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng ngữ pháp học tiếng Việt hiện đại, kế thừa trực tiếp các luận điểm từ các nhà nghiên cứu hàng đầu như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức và Nguyễn Thị Nhung. Khung lý thuyết vận dụng mô hình phân loại từ loại tích hợp 3 tiêu chuẩn chặt chẽ: ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp khái quát, khả năng kết hợp trong cụm danh từ và chức vụ cú pháp trong câu.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được vận dụng gồm 6 tiểu loại danh từ chính: danh từ tổng hợp, danh từ riêng, danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ sự vật, danh từ chỉ chất liệu và danh từ chỉ khái niệm trừu tượng. Về mặt cấu tạo, danh từ được phân tích dựa trên đơn vị hình vị, chia thành từ đơn và từ phức (bao gồm từ ghép và từ láy). Về nguồn gốc, vốn từ được phân xuất thành từ thuần Việt, từ vay mượn tiếng Hán và từ vay mượn ngôn ngữ Ấn Âu, tạo nên một ma trận phân tích đa chiều và khoa học.

Phương pháp nghiên cứu

Ngữ liệu của đề tài được trích xuất từ 3 tác phẩm kinh điển của Tô Hoài đại diện cho hai mảng sáng tác truyện và kí. Cỡ mẫu khảo sát gồm 290 trang văn bản được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu chủ đích kết hợp phân tầng: 145 trang văn bản hư cấu nghệ thuật và 145 trang văn bản hồi kí phi hư cấu quy đổi, bảo đảm sự tương thích tuyệt đối về dung lượng văn bản để đối chiếu.

Luận văn kết hợp phương pháp miêu tả với thủ pháp thống kê toán học, thủ pháp phân loại hệ thống hóa, phân tích nghĩa tố và so sánh đối chiếu. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm khắc phục triệt để tính chủ quan, cảm tính thường thấy trong phê bình văn học truyền thống, chuyển hóa các hiện tượng ngôn ngữ thành các biến số định lượng xác thực. Toàn bộ quy trình xử lý dữ liệu được tiến hành nghiêm ngặt trong thời gian 24 tháng thuộc khóa đào tạo cao học K27B giai đoạn 2019-2021, mang lại độ tin cậy khoa học cao cho các luận điểm đề xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 2.750 danh từ và 16.798 lượt sử dụng đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, danh từ chỉ sự vật chiếm ưu thế tuyệt đối ở cả hai thể loại nhưng có sự phân hóa về tỷ lệ. Trong truyện, danh từ chỉ sự vật chiếm 52,4% tổng số danh từ (559 từ) với 4.179 lượt xuất hiện (chiếm 49,2%). Trong kí, tiểu loại này chiếm 43,3% (729 từ) với 3.595 lượt xuất hiện (chiếm 43,3%).

Thứ hai, danh từ riêng có sự gia tăng đột biến trong thể loại kí. Trong khi thể loại truyện chỉ ghi nhận 95 danh từ riêng (chiếm 8,9% tổng số từ và 14,0% số lượt dùng), thể loại kí ghi nhận tới 475 danh từ riêng (chiếm 28,2% tổng số từ và 15,8% số lượt dùng), gấp 5 lần về số lượng mục từ so với truyện.

Thứ ba, cấu tạo danh từ phản ánh sự đối lập sâu sắc về phong cách thể loại. Ngữ liệu truyện thiên về từ đơn với 681 từ (chiếm 63,9%), từ phức chỉ chiếm 36,1% (385 từ). Ngược lại, ngữ liệu kí ghi nhận ưu thế của từ phức với 878 từ (chiếm 52,1%), trong khi từ đơn giảm xuống còn 47,9% (806 từ).

Thứ tư, nguồn gốc từ vựng có sự dịch chuyển mạnh mẽ. Thể loại truyện đậm đặc bản sắc bản địa với 925 từ thuần Việt (chiếm 86,7%), từ Hán Việt chiếm 13,1% và từ Ấn Âu chỉ chiếm 0,1% (duy nhất 1 từ). Ngược lại, thể loại kí ghi nhận tỷ lệ từ vay mượn tăng vọt lên 28,1%, trong đó từ gốc Hán chiếm 25,8% (435 từ) và từ gốc Ấn Âu chiếm 2,3% (37 từ).

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về các tham số từ vựng giữa hai thể loại bắt nguồn từ bản chất thi pháp và phương thức phản ánh đời sống. Truyện ngắn và truyện đồng thoại của Tô Hoài tập trung xây dựng hình tượng nhân vật và thế giới loài vật sinh động, mộc mạc, khiến tần suất lặp lại của mỗi danh từ đạt mức 7,0 lượt trên mỗi từ. Trong khi đó, hồi kí Chiều chiều gánh vác sứ mệnh ghi lại những sự kiện lịch sử, chính trị và văn nghệ ngổn ngang suốt ba thập kỷ từ năm 1955 đến năm 1970. Mật độ lặp lại danh từ ở kí chỉ đạt 4,9 lượt trên mỗi từ, phản ánh một lượng thực thể thực tế khổng lồ cần được gọi tên.

Trong các báo cáo khoa học, toàn bộ hệ thống số liệu này được trình bày trực quan thông qua 12 bảng thống kê chi tiết và 13 biểu đồ chuyên dụng. Điển hình là biểu đồ hình cột so sánh kiểu cấu tạo từ đơn và từ phức, cùng biểu đồ hình quạt thể hiện tương quan 6 tiểu loại danh từ. Cách tổ chức dữ liệu trực quan giúp người đọc nhận diện rõ ràng bước chuyển biến trong ngòi bút Tô Hoài: từ lối văn giàu tính tạo hình sang phong cách hiện thực sắc sảo, nghiêm nghị và đậm chất chiêm nghiệm triết lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng xác thực của luận văn, 4 giải pháp ứng dụng thực tiễn được đề xuất cụ thể:

Thứ nhất, tích hợp phương pháp định lượng ngôn ngữ vào giảng dạy thi pháp tác giả tại các trường đại học sư phạm. Giảng viên bộ môn Ngữ văn cần đưa các chỉ số thống kê thực chứng, tiêu biểu như tỷ lệ 86,7% từ thuần Việt ở thể loại truyện hay 28,2% danh từ riêng ở thể loại kí, vào bài giảng chuyên đề trong vòng 6 tháng tới nhằm đạt mục tiêu 100% sinh viên nắm bắt bản chất ngôn ngữ tác phẩm bằng tư duy khoa học.

Thứ hai, số hóa và xây dựng ngân hàng ngữ liệu danh từ văn học hiện đại. Nhóm nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng cần chuyển đổi toàn bộ 2.750 mục từ khảo sát thành bộ ngữ liệu điện tử mở trong lộ trình 12 tháng, với mục tiêu đạt độ chính xác dữ liệu 100% để phục vụ công tác tra cứu cho cộng đồng học thuật.

Thứ ba, cải tiến phương pháp hướng dẫn phân tích thể loại văn học tại các trường trung học phổ thông. Giáo viên Ngữ văn cần vận dụng số liệu đối sánh từ đơn và từ phức giữa truyện và kí để hướng dẫn học sinh nhận diện đặc trưng phong cách, mục tiêu nâng cao 80% khả năng cảm thụ ngôn từ nghệ thuật của học sinh trong năm học tới.

Thứ tư, mở rộng khảo sát phong cách học trên các tác giả văn xuôi cùng thời. Các viện nghiên cứu ngôn ngữ và học viên sau đại học cần triển khai mô hình khảo sát này trên tác phẩm của các cây bút tiêu biểu như Nam Cao hay Nguyễn Tuân trong thời gian 18 tháng, hướng tới xây dựng hệ thống chỉ số phong cách học định lượng cho văn học Việt Nam thế kỷ 20.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

Thứ nhất, giảng viên và nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt. Nhóm đối tượng này có thể khai thác mô hình phân loại 6 tiểu loại danh từ cùng hệ thống 16.798 lượt dẫn chứng thực tế để làm học liệu giảng dạy cho các học phần từ vựng - ngữ pháp học và ngữ nghĩa học.

Thứ tư, giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông. Tài liệu cung cấp góc nhìn ngôn ngữ học bổ trợ đắc lực cho việc phân tích chuyên sâu hai tác phẩm trọng tâm trong chương trình giáo dục phổ thông là Vợ chồng A Phủ và Dế Mèn phiêu lưu kí.

Thứ ba, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn. Công trình là hình mẫu chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu định lượng, hướng dẫn chi tiết cách tiếp cận 290 trang tư liệu, kỹ thuật lập bảng đối chiếu và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê khách quan.

Thứ tư, nhà phê bình văn học và biên tập viên xuất bản. Các chỉ số về 475 danh từ riêng và hệ thống từ mượn gốc Hán trong hồi kí Chiều chiều cung cấp bằng chứng tin cậy để thẩm định phong cách phi hư cấu và đánh giá sự phát triển văn nghiệp của nhà văn Tô Hoài.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân nào khiến số lượng danh từ trong hồi kí Chiều chiều cao hơn hẳn thể loại truyện? Khảo sát ghi nhận hồi kí chứa 1.684 danh từ, vượt trội hơn thể loại truyện tới 618 từ (truyện chỉ có 1.066 từ). Sự khác biệt này xuất phát từ chức năng thể loại: hồi kí Chiều chiều tái hiện bức tranh xã hội rộng lớn và đời sống văn nghệ phức tạp, đòi hỏi hệ thống danh từ định danh phong phú hơn thế giới nghệ thuật tập trung của truyện.

Sự khác biệt rõ nét nhất về tiểu loại danh từ giữa truyện và kí của Tô Hoài là gì? Khác biệt nổi bật nhất thể hiện ở danh từ riêng với 475 từ trong kí (chiếm 28,2%), cao gấp 5 lần so với 95 từ trong truyện (chiếm 8,9%). Danh từ riêng trong kí giữ vai trò ghi nhận chính xác tên tuổi nhân vật, cơ quan, tổ chức và địa danh có thật, bảo đảm tính xác thực lịch sử của tác phẩm.

Tại sao từ phức lại chiếm tỷ lệ ưu thế trong thể loại kí của Tô Hoài? Trong kí, từ phức chiếm 52,1% (878 từ), cao hơn hẳn mức 36,1% trong truyện. Bản thân từ phức mang tính khái quát hóa và trừu tượng cao, là công cụ ngôn ngữ tối ưu để tác giả thể hiện những nhận định chính trị, bình luận xã hội và những chiêm nghiệm nhân sinh sâu sắc trong giai đoạn 1955-1970.

Tỷ lệ từ thuần Việt đạt 86,7% trong truyện phản ánh điều gì về phong cách nghệ thuật? Chỉ số 86,7% từ thuần Việt (925 từ) khẳng định tài năng bậc thầy của Tô Hoài trong việc chắt lọc ngôn ngữ đời sống mộc mạc. Vốn từ bản địa giúp tái hiện chân thực không gian Tây Bắc hùng vĩ, tâm lý nhân vật đồng bào vùng cao và tạo nên giọng văn hóm hỉnh trong truyện đồng thoại thiếu nhi.

Phương pháp khảo sát của luận văn bảo đảm tính khách quan như thế nào? Luận văn xử lý toàn diện 16.798 lượt xuất hiện của danh từ trên 290 trang ngữ liệu bằng các công thức thống kê toán học nghiêm ngặt. Kết quả được kiểm chứng chéo qua 12 bảng số liệu và 13 biểu đồ so sánh, bảo đảm tính quy nạp khoa học và loại bỏ hoàn toàn các nhận định cảm tính.

Kết luận

  • Công trình đã thống kê và phân loại toàn diện 2.750 danh từ tiếng Việt với 16.798 lượt xuất hiện trên 290 trang ngữ liệu khảo sát tiêu biểu của nhà văn Tô Hoài.
  • Nghiên cứu chứng minh quy luật phân bố của danh từ chỉ sự vật chiếm ưu thế ở cả hai thể loại (52,4% ở truyện và 43,3% ở kí), đồng thời chỉ ra sự đối lập giữa tính ưu thế của từ đơn trong truyện (63,9%) và từ phức trong kí (52,1%).
  • Luận văn làm sáng tỏ tính xác thực lịch sử của thể loại kí thông qua tỷ lệ danh từ riêng đạt 28,2% và mức độ tiếp nhận từ mượn gốc Hán lên tới 25,8%.
  • Nghiên cứu khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo của Tô Hoài qua việc điều phối nhuần nhuyễn 86,7% từ thuần Việt trong truyện để kiến tạo vẻ đẹp văn phong đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
  • Đóng góp nổi bật của luận văn là đã thiết lập mô hình phân tích ngôn ngữ học định lượng kết hợp thi pháp học thể loại, mở ra phương pháp tiếp cận văn bản khoa học và chuẩn xác.

Trong lộ trình 18 tháng tới, hướng nghiên cứu này cần được tiếp tục mở rộng sang toàn bộ di sản văn xuôi của tác giả và tích hợp vào các phần mềm xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Hãy khai thác ngay nguồn học liệu giá trị từ luận văn này để nâng cao chất lượng nghiên cứu ngôn ngữ học và đổi mới phương pháp giảng dạy văn học trong thực tiễn!