Luận văn tốt nghiệp xây dựng danh mục tương tác thuốc cần chú ý trong thực hành lâm sàng tại bệnh viện nội tiết trung ương năm 2015 2020

Luận văn phân tích danh mục tương tác thuốc quan trọng trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương giai đoạn 2015-2020.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

69
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN VỀ TƯƠNG TÁC THUỐC

1.1.1. Khái niệm tương tác thuốc

1.1.2. Phân loại tương tác thuốc

1.1.3. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tương tác thuốc

1.1.4. Dịch tễ tương tác thuốc

1.1.5. Ý nghĩa tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng

1.1.6. Các biện pháp phòng ngừa tương tác thuốc

1.2. QUẢN LÝ TTT TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG

1.2.1. Phương pháp phát hiện tương tác thuốc

1.2.2. Một số cơ sở dữ liệu thường dùng tra cứu TTT hiện nay

1.3. MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG

1.3.1. Vài nét về bệnh viện Nội tiết Trung ương

1.3.2. Khoa Dược của bệnh viện Nội tiết Trung ương

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Xây dựng danh mục TTT cần chú ý của các hoạt chất từ danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện tại BVNTTW năm 2015-2020

2.1.2. Bước đầu xây dựng hướng dẫn xử trí các tương tác thuốc cần chú ý trong thực hành lâm sàng

2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Xây dựng danh mục TTT cần chú ý của các hoạt chất từ danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện tại BVNTTW năm 2015-2020

2.3.2. Bước đầu xây dựng hướng dẫn xử trí các tương tác thuốc cần chú ý trong thực hành lâm sàng

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. XÂY DỰNG DANH MỤC TTT BẤT LỢI CẦN CHÚ Ý DỰA TRÊN DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN

3.2. BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN XỬ TRÍ CÁC TƯƠNG TÁC THUỐC CẦN CHÚ Ý TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tương tác thuốc

Tương tác thuốc (tương tác thuốc) là một vấn đề quan trọng trong thực hành lâm sàng, đặc biệt tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Khái niệm này đề cập đến sự thay đổi tác dụng hoặc độc tính của thuốc khi sử dụng đồng thời với thuốc khác, dược liệu, thức ăn hoặc hóa chất khác. Tương tác thuốc có thể được phân loại thành hai nhóm chính: tương tác dược động học và tương tác dược lực học. Tương tác dược động học ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa và thải trừ của thuốc, trong khi tương tác dược lực học liên quan đến tác dụng dược lý của thuốc. Việc phát hiện và quản lý các tương tác này là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và hiệu quả điều trị. Theo thống kê, tỷ lệ tương tác thuốc có thể lên đến 20% khi bệnh nhân sử dụng từ 10 đến 20 loại thuốc. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc xây dựng danh mục tương tác thuốc để hỗ trợ các bác sĩ trong việc kê đơn và điều trị.

1.1. Phân loại tương tác thuốc

Tương tác thuốc được phân loại thành hai nhóm chính: tương tác dược động học và tương tác dược lực học. Tương tác dược động học liên quan đến sự thay đổi nồng độ thuốc trong huyết tương, có thể dẫn đến tác dụng dược lý hoặc độc tính không mong muốn. Ngược lại, tương tác dược lực học xảy ra khi các thuốc có tác dụng tương tự hoặc đối kháng lẫn nhau. Việc hiểu rõ các loại tương tác này giúp các bác sĩ có thể dự đoán và quản lý hiệu quả hơn trong quá trình điều trị. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tương tác thuốc bao gồm số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và sự phối hợp giữa các bác sĩ trong việc điều trị. Do đó, việc xây dựng danh mục tương tác thuốc là cần thiết để giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

II. Quản lý tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng

Quản lý tương tác thuốc (quản lý thuốc) là một phần quan trọng trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Việc phát hiện và xử trí các tương tác thuốc cần được thực hiện một cách hệ thống và có kế hoạch. Các bác sĩ có thể sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau như tờ hướng dẫn sử dụng thuốc, các cơ sở dữ liệu tra cứu tương tác thuốc, và sự hỗ trợ từ dược sĩ lâm sàng. Một cơ sở dữ liệu hiệu quả cần có tính đầy đủ, tính chọn lọc và tính phạm vi để cung cấp thông tin chính xác và hữu ích cho bác sĩ. Việc theo dõi chặt chẽ các phản ứng có hại của thuốc và điều chỉnh liều lượng là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Ngoài ra, việc giảm thiểu số lượng thuốc kê đơn cũng là một biện pháp hiệu quả để giảm nguy cơ tương tác thuốc.

2.1. Phương pháp phát hiện tương tác thuốc

Để phát hiện tương tác thuốc, các bác sĩ có thể tham khảo nhiều nguồn thông tin khác nhau. Các cơ sở dữ liệu tra cứu tương tác thuốc hiện nay cung cấp thông tin về cơ chế tương tác, hậu quả và biện pháp can thiệp. Tuy nhiên, không phải tất cả các cơ sở dữ liệu đều có chất lượng đồng nhất. Một số cơ sở dữ liệu chỉ liệt kê cặp tương tác mà không cung cấp thông tin đầy đủ về cách xử trí. Do đó, việc lựa chọn nguồn thông tin phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Các bác sĩ cần được đào tạo để sử dụng hiệu quả các công cụ này trong thực hành lâm sàng.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của danh mục tương tác thuốc

Danh mục tương tác thuốc (danh mục thuốc) được xây dựng nhằm mục đích hỗ trợ các bác sĩ trong việc phát hiện và xử trí các tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng. Việc có một danh mục rõ ràng giúp các bác sĩ dễ dàng tra cứu và nhận diện các tương tác có thể xảy ra, từ đó đưa ra quyết định điều trị hợp lý. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều trị mà còn giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng danh mục tương tác thuốc có thể làm giảm tỷ lệ phản ứng có hại do tương tác thuốc. Hơn nữa, danh mục này cũng có thể được cập nhật thường xuyên dựa trên các nghiên cứu mới và thông tin từ thực tiễn lâm sàng, đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong điều trị.

3.1. Tác động đến chất lượng điều trị

Việc sử dụng danh mục tương tác thuốc có tác động tích cực đến chất lượng điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Các bác sĩ có thể dễ dàng nhận diện và xử lý các tương tác thuốc, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân. Danh mục này cũng giúp các bác sĩ có cái nhìn tổng quan về các thuốc có nguy cơ cao gây tương tác, từ đó có thể điều chỉnh liều lượng hoặc thay thế thuốc khi cần thiết. Điều này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe của bệnh nhân mà còn nâng cao uy tín của cơ sở y tế trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

25/01/2025
Luận văn tốt nghiệp xây dựng danh mục tương tác thuốc cần chú ý trong thực hành lâm sàng tại bệnh viện nội tiết trung ương năm 2015 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ TƯƠNG TÁC THUỐC 1. Khái niệm tương tác thuốc Tương tác thuốc là sự thay đổi tác dụng hoặc độc tính của thuốc khi sử dụng đồng thời với thuốc khác, dược liệu, thức ăn, đồ uống hoặc hóa chất khác [1, 2, 31]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, khái niệm “tương tác thuốc” chỉ đề cập đến tương tác thuốc - thuốc, là hiện tượng xảy ra khi sử dụng đồng thời hai hay nhiều thuốc.

Trong đa số trường hợp, thầy thuốc chủ động phối hợp thuốc nhằm lợi dụng TTT để tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ hoặc để giải độc thuốc. Tuy nhiên, trong thực tế điều trị có những tình huống thầy thuốc không lường trước được TTT: cùng một thuốc, cùng một mức liều điều trị nhưng khi phối hợp với thuốc này lại giảm hoặc mất tác dụng; ngược lại khi phối hợp với thuốc kia, lại xảy ra ngộ độc [2]. Chính vì thế, việc phát hiện, kiểm soát và xử trí TTT có ý nghĩa rất quan trọng. Phân loại tương tác thuốc Tương tác thuốc được phân loại thành hai nhóm dựa trên cơ chế của tương tác, bao gồm tương tác dược động học và tương tác dược lực học [2, 3].

Tương tác dược động học Tương tác dược động học là tương tác tác động lên các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ của thuốc trong cơ thể. Từ đó, dẫn đến sự thay đổi nồng độ của thuốc trong huyết tương, làm thay đổi tác dụng dược lý hoặc độc tính của thuốc. Tương tác dược động học là loại tương tác xảy ra trong suốt quá trình tuần hoàn của thuốc trong cơ thể, khó đoán trước và không liên quan đến cơ chế tác dụng của thuốc [2, 3]. Tương tác dược lực học Tương tác dược lực học là loại tương tác đặc hiệu, có thể biết trước dựa vào tác dụng dược lý và phản ứng có hại của thuốc.

Đây là loại tương tác xảy ra khi phối hợp các thuốc có tác dụng dược lý hoặc phản ứng có hại tương tự nhau hoặc đối kháng lẫn nhau. Các thuốc có cùng cơ chế tác dụng sẽ có cùng kiểu tương tác dược lực học [2, 3]. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến tương tác thuốc 1. Yếu tố thuộc về thuốc Số lượng thuốc bệnh nhân sử dụng càng tăng thì bệnh nhân càng có nguy cơ gặp phải tương tác thuốc bất lợi, tần suất tương tác thuốc 3-5% khi dùng vài thuốc và tới 20% khi dùng 10-20 thuốc [3, 5].

Tỷ lệ các phản ứng có hại (ADR) khi kết hợp nhiều loại thuốc sẽ tăng theo cấp số nhân. Một thống kê dịch tễ học cho thấy tỷ lệ ADR là 7% ở bệnh nhân dùng phối hợp 6-10 loại thuốc, nhưng tỷ lệ này sẽ là 40% khi dùng phối hợp 16-20 loại [5]. Các thuốc có khoảng điều trị hẹp như: Kháng sinh aminoglycosid, cyclosporin, digoxin, những thuốc điều trị HIV, thuốc chống đông, thuốc điều trị loạn nhịp tim (quinidin, lidocain, procainamid), những thuốc điều trị động kinh (carbamazepin, phenytoin, acid valproic) và thuốc điều trị đái tháo đường (insulin, dẫn chất sulfonylure đường uống) [22]. Yếu tố thuộc về người bệnh Yếu tố di truyền đóng vai trò quyết định tốc độ của enzym trong quá trình chuyển hóa thuốc, trong đó hệ chuyển hóa quan trọng nhất là Cytocrom P450.

Bệnh nhân có enzym chuyển hóa thuốc chậm thường ít có nguy cơ gặp tương tác thuốc hơn bệnh nhân có enzym chuyển hóa thuốc nhanh [25]. Nhiều bệnh đòi hỏi người bệnh buộc phải dùng nhiều thuốc để đạt được hiệu quả điều trị mong muốn. Ví dụ suy tim sung huyết, hội chứng AIDS, bệnh lao, động kinh hay bệnh tâm thần. Trong khi đó, nhiều thuốc dùng trong điều trị lao hay cho bệnh nhân mắc hội chứng AIDS, động kinh hay bệnh tâm thần lại có khả năng cảm ứng hay ức chế enzym chuyển hóa, dễ gây tương tác với thuốc khác.

Một số tình trạng bệnh lý đòi hỏi sử dụng các thuốc có khoảng điều trị hẹp. Ví dụ, lithium dùng để điều trị rối loạn lưỡng cực, thay đổi nhỏ nồng độ lithium trong máu do tương tác thuốc cũng có thể làm xuất hiện độc tính trên người bệnh [14, 24]. Trên những đối tượng người bệnh đặc biệt như trẻ sơ sinh, trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú dược động học của thuốc có sự khác biệt dẫn đến nguy cơ xảy ra tương tác cao hơn đối tượng người bệnh bình thường. Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi có nhiều cơ quan trong cơ thể chưa hoàn thiện về mặt chức năng.

Người cao tuổi có những thay đổi nhiều do suy giảm chức năng các cơ quan như gan, thận. Người bệnh béo phì hay suy dinh dưỡng thường có sự thay đổi mức độ chuyển hóa enzym vì thế đối tượng này nhạy cảm hơn và dễ bị ảnh hưởng bởi tương tác thuốc 3 Luan van hơn. Những đối tượng khác có nguy cơ cao gặp phải tương tác thuốc là những người bệnh nặng, người bệnh mắc bệnh tự miễn và người bệnh đã trải qua phẫu thuật ghép cơ quan [14, 25]. Yếu tố thuộc về cán bộ y tế Nếu người bệnh được điều trị bởi nhiều bác sỹ cùng lúc, mỗi bác sỹ có thể không nắm được đầy đủ thông tin về những thuốc người bệnh đã được kê đơn và đang sử dụng.

Điều này có thể dẫn đến những TTT nghiêm trọng không được kiểm soát. Một số nguồn thông tin tra cứu tương tác mà các bác sỹ có thể tiếp cận trong việc kiểm tra tương tác như tờ hướng dẫn sử dụng, MIMS, VIDAL, Dược thư hoặc sử dụng các phần mềm tra cứu TTT sẽ làm giảm thiểu các tương tác bất lợi cho người bệnh, đặc biệt là những thuốc có khoảng điều trị hẹp [15]. Dịch tễ tương tác thuốc Tương tác thuốc là một vấn đề thường xảy ra trên lâm sàng. Tần suất xảy ra tương tác và hậu quả của TTT xảy ra rất khác nhau, phụ thuộc rất lớn vào đối tượng nghiên cứu (người bệnh nội trú hay ngoại trú, người bệnh trẻ tuổi hay cao tuổi), phụ thuộc vào phương pháp nghiên cứu (tiến cứu hay hồi cứu), loại tương tác được ghi nhận (bất kì tương tác nào hay chỉ tương tác gây ra ADR).

Các nghiên cứu khác nhau, sử dụng các công cụ phát hiện tương tác thuốc khác nhau, trên các đối tượng khác nhau, cho kết quả đơn thuốc có tương tác thuốc bất lợi “tiềm tàng” rất cao (dao động từ 35-60%) [32]. Một nghiên cứu phân tích trên 6.910 đơn thuốc ngoại trú theo dữ liệu của Bảo hiểm y tế tại Pháp trong giai đoạn 2010-2015, có 13.196 (0,2%) đơn liên quan đến TTT chống chỉ định và 95. Một nghiên cứu khác tiến hành trên hệ thống giám sát trực tuyến tại Phần Lan, với 276.891 đơn thuốc ngoại trú, phát hiện được 31. Các nghiên cứu trong nước cũng xác định được tỷ lệ xảy ra tương tác thuốc trong nhiều phạm vi (khoa lâm sàng, bệnh viện…), nhiều đối tượng bệnh nhân khác nhau (người già, trẻ em…).

Nghiên cứu của tác giả Lê Huy Dương tại Bệnh viện Hợp Lực (Thanh Hóa) năm 2017, tỷ lệ bệnh án có thể có tương tác thuốc là 47%, trong đó tương tác chống chỉ định viện Phổi Thái Nguyên năm 2017, Tô Thị Hoài cũng đưa ra con số tương tự là 49,3% tổng số bệnh án có phát hiện tương tác thuốc [10, 13]. Trên 4 Luan van đối tượng người già, tác giả Lê Thị Phương khảo sát bệnh án thuộc 8 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Lão khoa Trung Ương năm 2018 cho kết quả 7,7% bệnh án có xuất hiện tương tác thuốc, trong đó tỷ lệ cao nhất là 25% tại khoa can thiệp tim mạch [16]. Theo tác giả Lê Thị Phương Thảo, 0,32% là tỷ lệ đơn thuốc có tương tác chống chỉ định qua rà soát ban đầu tại khoa Khám bệnh cán bộ, Bệnh viện Quân đội Trung ương 108 năm 2019 [17]. Ý nghĩa tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng Tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng là các tương tác thuốc dẫn đến thay đổi tác dụng điều trị hoặc độc tính của thuốc so với khi sử dụng đơn độc, tới mức cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời như hiệu chỉnh liều hoặc theo dõi đặc biệt [23].

Hai yếu tố chính để nhận định một tương tác có ý nghĩa lâm sàng là hậu quả của tương tác gây ra và phạm vi điều trị của các thuốc tham gia phối hợp. Đối với thuốc có phạm vi điều trị hẹp như digoxin, chỉ cần một thay đổi nhỏ về liều điều trị có thể sẽ dẫn đến ADR, trong khi đó đối với những thuốc có phạm vi điều trị rộng, khi tăng nồng độ lên gấp đôi thậm chí gấp 3 lần có thể không có ảnh hưởng nghiêm trọng trên lâm sàng, như ceftriaxon. Trong một tương tác thuốc, thuốc có phạm vi điều trị hẹp cần sự giám sát đặc biệt hơn thuốc có phạm vi điều trị rộng vì nó có nguy cơ cao gây ra tương tác từ mức độ vừa đến nguy hiểm. Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến thuốc làm ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, thuốc có nguy cơ gia tăng độc tính khi phối hợp.

Và cuối cùng đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân sẽ quyết định tương tác đó có ý nghĩa lâm sàng hay không vì trong thực tế điều trị không phải lúc nào một tương tác thuốc cũng xảy ra, hơn nữa khi xảy ra, không phải tương tác nào cũng nguy hiểm với tất cả bệnh nhân [5]. Cùng với các hậu quả trực tiếp trong điều trị trên người bệnh, tương tác thuốc còn gây ra những thiệt hại về chi phí điều trị, cả uy tín của nhân viên y tế, cơ sở y tế cũng như các hãng Dược phẩm. Thầy thuốc có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu những ảnh hưởng xấu lên sức khỏe của người bệnh là hậu quả của tương tác thuốc. Cơ sở y tế phải chịu các chi phí, nguồn lực để chẩn đoán, điều trị cho bệnh nhân gặp phải tương tác thuốc nguy hiểm, đe dọa tính mạng.

Bên cạnh đó, các hãng dược phẩm cũng đối mặt với nguy cơ tốn kém chi phí đầu tư, thời gian, tài chính nếu một thuốc bị rút ra khỏi thị trường vì xảy ra tương tác nghiêm trọng trên lâm sàng, thậm chí có khả năng phải theo đuổi các thủ tục pháp lý lâu dài. Thực tế cho thấy, trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2003 có 5 trên 10 thuốc bị rút số dăng ký khỏi thị 5 Luan van trường Hoa Kỳ do gây ra các tương tác thuốc nghiêm trọng [30], dẫn đến những thái độ xử trí khác nhau của thầy thuốc. Một số bác sỹ cảnh giác với các TTT, hạn chế sử dụng các thuốc có khả năng tương tác cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn tốt nghiệp: Danh mục tương tác thuốc cần chú ý trong thực hành lâm sàng tại bệnh viện nội tiết trung ương (2015-2020)" của tác giả Trần Thị Lương, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Uyển và ThS. Bùi Thị Xuân, mang đến cái nhìn sâu sắc về các tương tác thuốc quan trọng trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương trong giai đoạn 2015-2020. Nghiên cứu này không chỉ giúp các chuyên gia y tế nhận diện và quản lý các tương tác thuốc có thể xảy ra, mà còn nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân, từ đó giảm thiểu rủi ro và cải thiện hiệu quả điều trị.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực dược học và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Nghiên Cứu Về Sử Dụng Thuốc Ung Thư Tại Bệnh Viện Ung Bướu Hà Nội, nơi phân tích tình hình sử dụng thuốc trong điều trị ung thư, và Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Trong Điều Trị Ngoại Trú Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Kon Rẫy, Tỉnh Kon Tum Năm 2022, bài viết này cung cấp cái nhìn về thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến việc quản lý thuốc và tương tác thuốc, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.