mở đầu là xác định norfloxacin bằng phương pháp cực phổ trực tiếp và kĩ thuật xung vi phân. Các peak khử của hợp chất này trong các dung dịch nền điện phân khác nhau trong khoảng pH từ 1-10 cũng đẹp như trong dung dịch kiềm nồng độ cao NaOH 0,1M. Các tác giả [31] cũng sử dụng kĩ thuật von –ampe vòng để nghiên cứu khả năng hấp thụ của norfloxacin trên điện cực giọt thủy ngân treo (HMDE) trong một số dung dịch điện phân với pH nhỏ dưới 9. Tiếp theo đó cũng theo [31] nghiên cứu peak khử của ofloxacin xuất hiện ở thế -1,343V theo phương pháp quét điện hóa tuyến tính với điện cực so sánh SCE trong đệm vạn năng pH = 4 cho thấy quá trình khử của ofloxacin là quá trình bất thuận nghịch cho khoảng xác định tuyến tính từ 8.10-2 M với giới hạn phát hiện là 4.
Xác định ofloxacin trong các mẫu dung dịch chuẩn của nó, mẫu thuốc và các chất lỏng sinh học các tác giả tìm được khoảng tuyến tính của ofloxacin từ 4.10-4M trong nền đệm axetat pH = 5 kĩ thuật xung vi phân. 15 Các tác giả [31] cũng nói đến qui trình xác định norfloxacin trên điện cực glassy cacbon sử dụng kĩ thuật von – ampe vòng và kĩ thuật sóng vuông, peak của norfloxacin cho khoảng tuyến tính từ 5-50 ppm với giới hạn phát hiện là 1,1 ppm. Norfloxacin đã được xác định trong các mẫu thuốc trước đó bằng phương pháp cực phổ cổ điển [16]. Phản ứng khử dùng kĩ thuật cực phổ trực tiếp và kĩ thuật xung vi phân được sử dụng để nghiên cứu peak của norfloxacin trong các dung dịch nền bazơ ở các pH khác nhau với sự có mặt của dimethyl formamide.
Trong môi trường axit mạnh pH < 1 chỉ xuất hiện một peak duy nhất trong khoảng từ -0,95V đến - 1,05V, nhưng trong dung dịch điện phân môi trường bazơ pH > 7,5 thì xuất hiện hai peak không thuận nghịch lần lượt trong khoảng từ -1,48V đến -1,67V (sóng 1) và từ -1,79V đến -1,93V (sóng 2) với dung dịch norfloxacin nồng độ 10-4M. Đến pH > 10 thì chỉ xuất hiện sóng 2 và cả 2 sóng 1 và 2 biến mất hoàn toàn nếu đo trong dung dịch NaOH 0,1M. Các tác giả giải thích sự xuất hiện và biến mất các peak này thông qua sơ đồ trong các môi trường axit và bazơ như sau, trong đó sự có mặt của H+ là nguyên nhân gây ra sự xuất hiện sóng xúc tác hiđro: 16 Tài liệu [10] xác định hàm lượng CIP trong thuốc bằng phương pháp chuẩn độ đo thế, phương pháp dựa trên phản ứng tạo phức nhanh của CIP với ion sắt (III) theo tỉ lệ 3:1 trong nền axit sunfuric loãng 0,09M. Điện cực hỗn hống bạc được sử dụng để làm hệ chỉ thị cho phương pháp, mỗi lần xem xét sự thay đổi của 0,5A/ml và sử dụng chất chuẩn là dung dịch Fe(III) 0,097M, phương pháp xác định được nồng độ CIP thấp ở mức 4ppm.
Cũng thuộc họ quinolones nhưng đối với enrofloxacin các tác giả [13] lại xác định hàm lượng chất này bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ trên catốt sử dụng đồng (II) như một chất trung gian. Dựa trên một nghiên cứu trước đó là xác định hàm lượng enrofloxacin trong mẫu thuốc và nước tiểu của chó bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ kĩ thuật xung vi phân [15] nhưng tiến hành trên điện cực giọt thủy ngân tĩnh cho hai khoảng tuyến tính là 4-15 và 18 – 55 ng/ml với thời gian hấp phụ 180s và 60s ở thế hấp phụ -0,3V. Tuy nhiên nghiên cứu này đã không cho thấy khả năng khả thi khi áp dụng vào mẫu huyết tương do peak khử của nó quá âm (-1,62V với điện cực so sánh là Ag/AgCl). Do đó nghiên cứu theo tài liệu [13] cho thấy vị trí peak chỉ ở -0,3V trên điện cực giọt thủy treo, phương pháp không chỉ cho phép xác định enrofloxacin trong mẫu huyết tương mà còn trong cả các mẫu mô sinh học, Cu (II) được sử dụng như là một chất trung gian để tạo phức trong đệm amôni với loại thuốc này trước khi bị khử trên điện cực bằng kĩ thuật quét sóng vuông.
2ENRO + Cu(II) + H2O Cu(ENRO)2H2O(sol) Cu(ENRO)2H2O(sol) Cu(ENRO)2H2O(ads.) + 2e− 2ENRO(sol) + Cu(Hg) Thế hấp phụ của phức này ở -0,1V trong thời gian hấp phụ là 40s. Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố xuất hiện peak, nồng độ đồng và pH các tác giả tìm được điều kiện tối ưu để xác định enrofloxacin với khoảng tuyến tính là 10 – 80 nM, giới hạn phát hiện là 0,33nM. 17 Xác định levofloxacin trong nước tiểu người bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ trên anot kĩ thuật quét sóng vuông trên điện cực glassy cacbon. Theo tài liệu [17] nghiên cứu sự xuất hiện peak của levofloxacin trong đệm axetat pH = 5 với kĩ thuật quét sóng vuông và von-ampe vòng các tác giả đã xác định được peak oxi hóa của levofloxacin xuất hiện ở thế 0,4V với điện cực so sánh là Ag/AgCl, khoảng tuyến tính xác định được là 6.10-7M với giới hạn phát hiện là 5.
Nghiên cứu cũng tiến hành xác định các mẫu bằng phương pháp HPLC để đối chứng, kết quả cho thấy phương pháp đã dùng để xác định levofloxacin trong mẫu nước tiểu hoàn toàn tin tưởng được. Xác định pefloxacin trong thuốc viên nén và huyết thanh bằng phương pháp von- ampe hòa tan hấp phụ catốt kĩ thuật quét sóng vuông. Theo tác giả tài liệu [12] tiến hành đo peak khử của pefloxacin trong dung dịch đệm vạn năng (đệm Britton - Robinson) pH = 7 trên điện cực giọt thủy ngân treo xác định được peak xuất hiện ở thế -1,07V với điện cực so sánh là Ag/AgCl, thế hấp phụ -0,4V. Tác giả cho rằng peak này có thể do sự khử nhóm C=O : Phương pháp cho hiệu suất thu hồi đạt đến 99,54% với giới hạn phát hiện là 1,65.10-10M trong mẫu chất chuẩn, đối với mẫu thuốc và huyết thanh thì hiệu suất thu hồi lần lượt là 99,57 và 98,55% giới hạn phát hiện là 4,5.
10 -10M với cả hai đối tượng trên. Tài liệu [27] tóm tắt cách xác định một số quinolones bằng phương pháp điện hóa theo bảng sau: Chất Dung dịch nền Phương pháp Điện cực làm việc Enrofloxacin, Britton-Robinson DCP, DPP Điện cực giọt thủy Sparfloxacin, buffer, pH 4 –11.98 ngân Fleroxacin Fleroxacin Britton-Robinson DCP, DPP, Điện cực giọt Hg buffer, pH 8.5 AdSV treo (HMDE) 18 Ofloxacin B.3 DCP, DPP Hg-electrode DC = direct current polarography: Cực phổ trực tiếp DPP = differential pulse polarography: kĩ thuật xung vi phân AdSV = adsorptive stripping voltammetry: phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ 1.2 Phương pháp trắc quang Các quinolones xác định bằng phương pháp trắc quang cho khoảng tuyến tính tuân theo định luật Lambert – Beer từ 3-10 ppm, nhiều phổ màu của nhóm quinolones được xác định dựa vào phản ứng tạo phức với sắt (III) Ciprofloxacin và Norfloxacin khi xác định đồng thời cho độ hấp thụ quang cực đại ở bước sóng 545 nm khi tạo phức với Palladium (II), eosin khi có mặt metyl xenlulo – đóng vai trò như một chất hoạt động bề mặt [11]. Dưới đây là bảng tóm tắt kết quả xác định một số quinolones bằng phương pháp trắc quang: Khoảng Chất Mẫu Cách tiến hành tuyến tính Thuốc nén Phản ứng tạo phức với sắt (III), 50–500 Ciprofloxacin Dung dịch dạng phổ hấp thụ quang xác định ở mg/l huyền phù 447 nm Thuốc nén Phản ứng tạo phức với sắt (III), 50–400 Norfloxacin phổ hấp thụ quang xác định ở mg/l 430 nm Các tác giả [33] nghiên cứu xác định đồng thời ba chất ciprofloxacin, enrofloxacin và pefloxacin thông qua phản ứng tạo phức trao đổi điện tích với ba tác nhân nhận khác nhau. Thứ nhất là Chloranilic axid (CL), phức của các quinolones trên với chất này cho độ hấp thụ quang cực đại ở bước sóng = 520nm, phương pháp này xác định được hàm lượng các chất CIP trong dạng viên nén, enrofloxacin trong thuốc dạng dung dịch tan và pefloxacin ở dạng dung dịch tiêm với độ chính xác lần lượt là 99.
Tác nhân thứ hai là tetracyanoethylene (TCNE), phức của ba quinolones trên với tác 19 nhân này tạo phức cho độ hấp thụ quang cực đại ở bước sóng =335nm đối với CIP và =290nm đối với cả enrofloxacin và pefloxacin, phương pháp này xác định được CIP dạng thuốc nén, enrofloxacin trong thuốc dạng dung dịch tan và pefloxacin ở dạng thuốc nén và dung dịch tiêm với độ chính xác lần lượt là 99.998 Tác nhân thứ ba là 2,3-dichloro-5,6- dicyano-p-benzoquinone (DDQ), phức này cho độ hấp thụ quang cực đại ở bước sóng = 460nm, phương pháp xác định được pefloxacin ở dạng thuốc nén và dung dịch tiêm với độ chính xác là 100. Cũng theo tài liệu [33] enrofloxacin còn xác định được thông qua các phản ứng tạo phức với sắt (III), phản ứng tạo phức trao đổi điện tích với 2,3-dichloro-5,6-dicyano-p- benzoquinone, hoặc phản ứng tạo phức cặp ion với bromocrezol hồng, tương tự pefloxacin cũng tạo được loại phức này với 3-methylbenzothiazolin- 2-one hydrazone và Ce (IV).3 Phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC) Theo [29] HPLC có ưu điểm rõ rệt là xác định được nồng độ chất ở nồng độ rất nhỏ đối với họ quinolones, phương pháp triết pha rắn cho khả năng xác định đến nồng độ cỡ 100pg/ml còn phương pháp HPLC xác định được đến nồng độ 2ng/ml. Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong nhiều công nghệ xác định CIP ở các đối tượng khác nhau như các dung dịch lỏng trong cơ thể, huyết thanh, các mô động vật, thậm chí cả ở huyết tương. Phương pháp này còn phát triển xác định được các fluoroquinolones trong các vật liệu sinh học bao gồm.
Tài liệu [32] xác định đồng thời ba chất ofloxacin, norfloxacin và ciprofloxacin trong tóc người bằng phương pháp HPLC sử dụng cột pha đảo C18 và detector nhạy fluorescence kết hợp với kĩ thuật triết pha rắn các loại thuốc từ dung dịch hòa tan tóc trong NaOH1M. Phương pháp này xác định được hàm lượng các loại thuốc trong khoảng từ 0,3-100ng/ml. Nghiên cứu tóc của 6 sinh viên sử dụng đồng thời một, hai hay cả 3 loại fluoroquinolones này dựa vào trung bình mỗi tháng chiều dài tóc tăng 1cm, các tác giả xác định được hàm lượng các thuốc trong đoạn tóc mọc ở giai đoạn sử dụng thuốc này, giới hạn phát hiện tương ứng của ba loại thuốc là 0.2 ng/ml cho 20 ofloxacin và norfloxacin, với sai số tương đối lần lượt cho từng loại là 10.3 ng/ml cho ciprofloxacin, với sai số tương đối là 9. Các tác giả [35] sử dụng phương pháp sắc kí (HPLC) để xác định hàm lượng của ofloxacin trong mẫu huyết thanh, sử dụng các chất hấp phụ khác nhau như: ODS, C8, C1, CN, phenyl and tert.