MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, quy hoạch sử dụng đất đã đƣợc chú trọng và thực thi nhằm đảm bảo việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên đất một cách tiết kiệm và có hiệu quả. Tuy nhiên, việc sử dụng đất trong những thập kỷ qua ở nhiều quốc gia trên Thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam đã và đang phải đối mặt với những vấn đề môi trƣờng trong quá trình sử dụng đất. Hội nghị Stockholm về Môi trƣờng và Con ngƣời (1972) đã đánh dấu sự ra đời của nhận thức về phát triển bền vững, đồng thời kêu gọi công tác quy hoạch theo phƣơng thức tích hợp đƣợc cả những nội dung môi trƣờng; tiếp đó là Hội nghị thƣợng đỉnh Trái đất về Môi trƣờng và Phát triển (Tháng 6 năm 1992) tại Rio De Janeiro với việc thông qua Chƣơng trình Nghị sự 21 kêu gọi xây dựng các chiến lƣợc phát triển bền vững quốc gia, lồng ghép các chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trƣờng.
Luật Bảo vệ Môi trƣờng năm 2005 của nƣớc ta đã đƣợc Quốc hội Khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua, trong đó quy định các phƣơng án quy hoạch sử dụng đất phải tiến hành đánh giá môi trƣờng chiến lƣợc (ĐMC). Chính vì vậy việc nghiên cứu lồng ghép các yếu tố bảo vệ môi trƣờng vào công tác quy hoạch sử dụng đất là cần thiết, nhằm giải quyết các mục tiêu chiến lƣợc cho phát triển bền vững và hạn chế, giảm thiểu những rủi ro đối với nguồn tài nguyên đất trong tƣơng lai. Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc, Việt Bắc và trung du Bắc Bộ, thành phố Yên Bái nằm ở vị trí 21,420B, 104,520Đ, là trung tâm tỉnh lỵ tỉnh Yên Bái với diện tích tự nhiên là 58.020km2; phía Bắc và phía Đông giáp huyện Yên Bình, phía Tây và phía Nam giáp huyện Trấn Yên của tỉnh. Thành phố nằm bên tả ngạn sông Hồng, có độ cao trung bình so với mặt biển là 35m, với cấu tạo địa hình gồm dải phù sa ven sông, đồng bằng phù sa cổ thềm sông, các đồi núi thấp, đỉnh tròn hình bát úp, các thung lũng, khe suối len lỏi xen kẽ đồi núi và cánh đồng lƣợn sóng chạy dọc theo triền sông.
n 2 Các yếu tố khí hậu của thành phố mang đặc trƣng khí hậu chuyển tiếp của miền Tây Bắc và Việt Bắc. Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,40C, mùa nóng vào các tháng 4, 6 là 330C, mùa lạnh vào tháng 1 là 130C, tối cao tuyệt đối là 370C, tối thấp tuyệt đối là 40C. Lƣợng mƣa trung bình năm là 1. Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5, 6 là 330C, mùa lạnh vào tháng 1 là 130C, tối cao tuyệt đối là 370C, tối thấp tuyệt đối là 40C.
Lƣợng mƣa trung bình năm là 1. Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm (cao điểm vào các tháng 6, 7, 8) chiếm 80 - 85% lƣợng mƣa cả năm. Có những năm xuất hiện mƣa đá cục bộ trên địa bàn thành phố. Do ảnh hƣởng của dãy Hoàng Liên Sơn ở phía Tây và hồ Thác Bà ở phía Đông nên thành phố Yên Bái có độ ẩm cao hơn một số nơi khác trong tỉnh, độ ẩm trung bình là 87%, có lúc lên tới hơn 90%.
Nằm ở vị trí nội chí tuyến, lƣợng bức xạ mặt trời là lớn và khá đồng đều. Số giờ nắng trong năm phụ thuộc vào độ che phủ của mây, những tháng nhiều mây che khuất mặt trời thì số giờ nắng giảm và ngƣợc lại. Thành phố Yên Bái có số giờ nắng trung bình một năm là 1. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành ở Yên Bái từ tháng 12 đến tháng 3.
Trong những ngày mùa đông, hiện tƣợng sƣơng mù về sáng sớm và chiều tối rất phổ biến. Trong mùa này hàng năm còn có một vài ngày sƣơng muối. Gió mùa Đông Nam thịnh hành từ 4 đến tháng 11 tạo ra sự mát mẻ và mƣa. Sang thời kỳ đầu mùa hè (tháng 5, 6) có gió tây nam xen kẽ tạo ra khí hậu khô nóng và độ ẩm thấp.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đƣợc sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trƣờng và Ban chủ nhiệm Khoa Môi trƣờng, Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo GS. Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá các yếu tố môi trường trong quy hoạch sử dụng đất thành phố Yên Bái đến năm 2020”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá yếu tố bảo vệ môi trƣờng cần kiểm soát trong quy hoạch sử dụng đất thành phố Yên Bái, từ đó đề xuất một số yếu tố môi trƣờng trong quy hoạch sử dụng đất thành phố Yên Bái đến năm 2020 1.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Yên Bái. - Đánh giá quy hoạch sử dụng đất thành phố Yên Bái đến năm 2011 - 2015 và định hƣớng đến năm 2020 theo yêu cầu bảo vệ môi trƣờng. - Đề xuất yếu tố bảo vệ môi trƣờng trong quy hoạch sử dụng đất thành phố Yên Báiđến năm 2020. - Đề xuất giải pháp thực hiện yếu tố môi trƣờng trong QHSDĐ thành phố Yên Bái đến năm 2020.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đánh giá đƣợc yếu tố bảo vệ môi trƣờng trong điều kiện sử dụng đất thành phố Yên Bái, góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở khoa học về sử dụng đất bền vững phục vụ công tác lập và thẩm định quy hoạch sử dụng đất thành phố 1. Ý nghĩa thực tiễn Xác định một số yếu tố môi trƣờng cần kiểm soát phục vụ công tác lập và thẩm định quy hoạch sử dụng đất thành phố Yên Bái nhằm giải quyết các mục tiêu phát triển bền vững và giảm thiểu những rủi ro đối với sử dụng đất thành phố trong tƣơng lai đang trong quá trình đô thị hoá. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất 2. Đất và sử dụng đất Đất là một hệ thống phức tạp bao gồm phần vô cơ, hữu cơ, sinh vật, nƣớc, khí và sự vận động liên tục từ bản thân nó cũng nhƣ tác động to lớn của con ngƣời. Vận động của con ngƣời là sự phát triển. Sự phát triển gắn liền với ô nhiễm và suy thoái môi trƣờng đất (Trần Văn Nhân, Nguyễn Thị Lan Anh, 2006).
Đất không đơn giản chỉ là lớp vỏ bề mặt của thạch quyển mà nó là sản phẩm của quá trình phong hoá lý hoá học tầng đá mẹ và sự chuyển hoá, nhào trộn của các chất khoáng và chất hữu cơ. Đất đƣợc hình thành với sự tham gia của các loài sinh vật. Sự phong hoá vật lý và hoá học giải phóng các chất khoáng từ đá mẹ, đồng thời xảy ra trong quá trình phân huỷ các sản phẩm của thực vật và sinh vật đất. Đất có vai trò quan trọng trong phân bố sinh thái của sinh vật.
Đất ở các vùng, các đới khác nhau có những đặc điểm và tính chất khác nhau về độ dày tầng đất, độ thoáng khí, độ chua, lƣợng nƣớc, hàm lƣợng các chất khoáng,. Đất cũng là môi trƣờng sống thuận lợi đối với đa số các loài sinh vật. Cảnh quan không có đất là cảnh quan không có sự sống (Lƣơng Đức Phẩm và cộng sự, 2009). Sử dụng đất (Land Use): Bao gồm toàn bộ các hoạt động can thiệp của con ngƣời đối với tài nguyên đất đai tự nhiên.
Sử dụng đất là quá trình thực hiện các hoạt động kinh tế, xã hội, sản xuất, an ninh, quốc phòng,… theo các định hƣớng quy hoạch sử dụng đất hoặc tự phát diễn ra trên một khu vực hoặc vùng lãnh thổ và có liên quan tới các biện pháp chính sau: - Khai thác (khai thác quặng mỏ, khai thác đá, khai thác rừng tự nhiên,…). - Xây dựng (khu dân cƣ, đƣờng xá giao thông và các công trình dân sinh khu đô thị, công nghiệp,…) và phân bố lại dân cƣ. n 5 Nhƣ vậy, sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ ngƣời - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trƣờng. Căn cứ vào nhu cầu của thị trƣờng sẽ phát hiện, quyết định phƣơng hƣớng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế - xã hội cao nhất.
Mục đích của sử dụng đất là làm thế nào để nguồn tƣ liệu có hạn này đem lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả sinh thái, hiệu quả xã hội cao nhất, đảm bảo đƣợc lợi ích trƣớc mắt và lợi ích lâu dài. Hiệu quả kinh tế đƣợc biểu hiện ở quan hệ so sánh giữa lƣợng kết quả đạt đƣợc và lƣợng chi phí bỏ ra. Một phƣơng án hay, một giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao phải đạt đƣợc tƣơng quan tối ƣu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tƣ. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là mức tăng thêm của các kết quả sản xuất và mức tiết kiệm chi phí lao động xã hội.
Hiệu quả kinh tế thể hiện bằng giá trị tổng thu nhập, tổng sản phẩm, lợi nhuận. Hiệu quả xã hội là mối tƣơng quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra. Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học. Hiệu quả môi trƣờng sinh thái thể hiện qua các chỉ tiêu: tỷ lệ diện tích đất đai đƣợc bảo vệ và cải tạo, bị ô nhiễm hay thoái hóa, mức độ bảo vệ môi trƣờng sinh thái trong vùng (đất - nƣớc - không khí, động, thực vật); sự thích hợp với môi trƣờng đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất.
Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất (Land Use Planning) là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nƣớc về tổ chức sử dụng đất đai đầy đủ và hợp lý có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất của quốc gia, tổ chức sử dụng đất nhƣ một tƣ liệu sản xuất cùng với các tƣ liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trƣờng (Đoàn Công Quỳ và cộng sự, 2006).