Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu, gồm các nội dung về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài trong thực tiễn. Chương 2: Giới thiệu tổng quan lý luận liên quan, gồm cơ sở lý thuyết có liên quan của đề tài, lý thuyết các yếu tố tác động đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư XDCB và các mô hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu, các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu, gồm các nội dung về thông tin mẫu nghiên cứu, kết quả kiểm định chất lượng của thang đo (Cronbach’s Alpha), kiểm định phân tích nhân tố (EFA), phân tích tương quan giữa các yếu tố, phân tích hồi quy và kiểm đinh các giả thiết nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị gồm có kết luận chung kết quả nghiên cứu, hàm ý quản trị nội dung các yếu tố, hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN LÝ LUẬN - Tính cấp thiết của đề tài - Cơ sở lý thuyết có liên - Mục tiêu, đối tượng và phạm vi quan của đề tài nghiên cứu - Các mô hình nghiên cứu có - Phương pháp nghiên cứu liên quan của đề tài - Ý nghĩa khoa học của đề tài trong thực tiễn PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU TRÌNH BÀY KẾT QUẢ - Phương pháp nghiên cứu NGHIÊN CỨU - Các giả thiết nghiên cứu - Thông tin mẫu nghiên cứu - Mô hình nghiên cứu - Kiểm định chất lượng của thang đo - Kiểm định phân tích nhân tố EFA - Phân tích tương quan giữa các yếu tố - Phân tích hồi quy KẾT LUẬN VÀ - Kiểm định mức độ phù hợp của HÀM Ý QUẢN TRỊ mô hình. - Kết luận chung - Kiểm định phương sai của phần - Hàm ý quản trị dư thay đổi. - Hạn chế của đề tài - Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo Hình 1.1 Tóm tắt bố cục của đề tài 123doc 7 CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN LÝ LUẬN Chương này trình bày cở sở lý thuyết gồm: Định nghĩa và khái niệm quan trọng có liên quan đến nghiên cứu của đề tài, phân loại dự án đầu tư xây dựng, đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng, các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng, các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN CỦA ĐỀ TÀI 2.Các định nghĩa và khái niệm quan trọng Dự án: Có nhiều cách khác nhau để khái niệm dự án là gì. Nhưng ở mỗi quốc gia, lãnh thổ nào đó sẽ có những khái niệm khác nhau về dự án. Theo Eric Verzuh (Mỹ): Một dự án được định nghĩa là “công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ độc nhất”.
Công việc tạm thời sẽ có điểm bắt đầu và kết thúc. Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dự án sẽ giải tán hoặc di chuyển sang những dự án mới. Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau. Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
Dự án đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50 năm 2014, là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. 123doc 8 Quản lý dự án: Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, là ngành khoa học nghiên cứu về việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý, giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra. Chủ đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50 năm 2014, là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng.
Công trình xây dựng: Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng,công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng gồm: Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư là cơ quan, tổ chức có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án và được người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ thẩm định. Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng 2014, là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng. 123doc 9 Tiến độ hoàn thành dự án xây dựng: Là thời gian thực tế hoàn thành một dự án đầu tư xây dựng tính từ khi chuẩn bị dự án đến khi nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng. Khái niệm chậm tiến độ Trong nghiên cứu này tình trạng chậm tiến độ của dự án được hiểu chính là thời gian thực hiện dự án vượt quá thời gian quy định trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu thực hiện dự án.
Hậu quả của chậm tiến độ Hậu quả của chậm tiến độ gây ảnh hưởng khác nhau cho các bên tham gia vào dự án. Một trong các hậu quả thường gặp là mất thời gian, tiền bạc và khả năng dự án bị thu hồi. Đối với chủ đầu tư, chậm tiến độ có nghĩa là mất nguồn thu có được từ dự án và hoặc tiếp tục phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng hiện hữu. Đối với nhà thầu, chậm tiến độ sẽ dẫn đến việc mất thêm tiền để chi trả cho các trang thiết bị và người lao động.
Ngoài ra, vốn ứng trước của nhà thầu đã chi vào các dự án rất khó để thu hồi. Đối với công chúng, các dự án xây dựng và các dự án cơ sở hạ tầng chưa được đưa vào để sử dụng đúng theo quy hoạch làm cho người dân phải tiếp tục sử dụng/ chia sẻ các cơ sở hạ tầng hiện hữu và cũ kỹ. Đối với nhà nước, Chính phủ bị mất các nguồn thu do chậm đưa vào sử dụng các công trình và cơ sở hạ tầng mới. Đối với bản thân dự án, chậm tiến độ khiến hầu hết các dự án phải chịu thêm gánh nặng chi phí gia tăng khi hoàn thành muộn hơn kế hoạch (Shaikh và cộng sự, 2010 trích dẫn bởi Vũ Quang Lãm, 2015).
Phân loại dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công. Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng. 123doc 10 Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo loại nguồn vốn sử dụng gồm: Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách và dự án. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn nhất, độc đáo.
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và dễ bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác… Điều ấy càng tạo nên nét duy nhất, độc đáo, mới lạ của dự án.
Tính phức tạp và đa ngành: Một dự án được tổ chức thực hiện liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào càng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước… Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên càng khác nhau.