Tổng quan nghiên cứu

Thị trường khoa học và công nghệ đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2013, Việt Nam đã tổ chức thành công 5 kỳ Chợ công nghệ và thiết bị quy mô quốc gia và quốc tế cùng gần 30 kỳ Techmart cấp vùng, thu hút hơn 1,2 triệu lượt khách tham quan và xác lập hàng ngàn hợp đồng giao dịch với tổng giá trị lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của mô hình Techmart trong thời gian dài chủ yếu phát triển dựa trên kinh nghiệm và nhu cầu tự phát của xã hội, thiếu các luận cứ khoa học vững chắc để bảo đảm tính phát triển bền vững. Nguồn cung công nghệ nội sinh chào bán tại chợ chỉ đáp ứng được khoảng 30% đến 40% nhu cầu đổi mới của doanh nghiệp, trong khi các tổ chức trung gian môi giới còn thiếu tính chuyên nghiệp và cơ chế hỗ trợ dịch vụ hậu Techmart chưa được hoàn thiện đồng bộ. Nhằm giải quyết các điểm nghẽn này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ tập trung đánh giá toàn diện vai trò, hiện trạng và hiệu quả hoạt động của các loại hình Techmart tại Việt Nam trong khung thời gian từ năm 2005 đến năm 2013. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là phân tích sâu sắc các yếu tố cấu thành thị trường, đánh giá mức độ tương tác giữa các chủ thể cung, cầu và môi giới, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức thực hiện có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các mô hình chợ công nghệ, hướng tới mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị giao dịch công nghệ bình quân đạt 10% mỗi năm theo định hướng chiến lược quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa hai nền tảng lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết về thương mại hóa tri thức khoa học công nghệ của các học giả kinh tế quốc tế và Lý thuyết kinh tế học thể chế về thị trường thông tin. Theo hệ thống lý thuyết này, công nghệ được xem là một loại hàng hóa đặc biệt mang hàm lượng chất xám cao, có tính độc quyền, độ bất đối xứng thông tin lớn và chi phí giao dịch phức tạp. Nghiên cứu chuẩn hóa bốn khái niệm nền tảng bám sát khung pháp lý hiện hành của Việt Nam:

  • Khoa học và công nghệ: Khái niệm được định vị theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, xác định khoa học là hệ thống tri thức về quy luật tự nhiên, xã hội và công nghệ là tập hợp các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
  • Thị trường công nghệ: Là tổng thể các thể chế bảo đảm việc giao dịch, mua bán các sản phẩm, dịch vụ, tri thức và thông tin khoa học công nghệ trên cơ sở lợi ích hài hòa giữa các bên tham gia.
  • Tổ chức trung gian và Sàn giao dịch công nghệ: Theo tinh thần Thông tư 16/2014/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, sàn giao dịch công nghệ là tổ chức trung gian vận hành tập trung, thường xuyên, cung cấp các gói dịch vụ chuyên nghiệp về thông tin, định giá, tư vấn chuyển giao và xúc tiến thương mại tài sản trí tuệ.
  • Mô hình Chợ công nghệ và thiết bị: Hoạt động xúc tiến thương mại tập trung diễn ra định kỳ hoặc trên môi trường mạng trực tuyến nhằm kết nối quan hệ cung cầu, tạo không gian đàm phán và ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, các báo cáo chuyên đề của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Tổng cục Thống kê và kết quả khảo sát 10.994 doanh nghiệp sản xuất của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quy mô mẫu khảo sát bao quát toàn diện chuỗi số liệu của 5 kỳ Techmart Quốc gia và Quốc tế, 18 kỳ Techmart vùng tiêu biểu giai đoạn 2004 đến 2013, kết hợp với dữ liệu vận hành từ hơn 68.748 lượt tìm kiếm giao dịch trên Sàn giao dịch công nghệ trực tuyến năm 2013. Mẫu phân tích doanh nghiệp được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho các nhóm ngành cơ khí chế tạo, điện tử, hóa chất và chế biến thực phẩm. Tác giả ưu tiên sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh định lượng nhằm theo dõi sự dịch chuyển về quy mô hợp đồng, tỷ lệ tham gia của các viện trường và cơ cấu nhu cầu công nghệ theo thời gian. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, làm rõ sự tương quan thực chứng giữa nguồn cung công nghệ nội địa và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đồng thời phối hợp phương pháp chuyên gia để đánh giá các rào cản thể chế trong quản lý nhà nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô tổ chức và giá trị giao dịch tại các kỳ Techmart ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc. Techmart Việt Nam 2003 tại Hà Nội chỉ có 319 đơn vị tham gia với 676 hợp đồng và biên bản ghi nhớ trị giá trên 1.000 tỷ đồng; đến kỳ Techmart Quốc tế ASEAN+3 năm 2009, quy mô đã tăng vọt lên 651 đơn vị với 3.000 công nghệ chào bán, ghi nhận 2.000 biên bản và hợp đồng kinh tế đạt tổng giá trị 1.718 tỷ đồng, trong khi Techmart Quốc tế 2012 tiếp tục khẳng định vị thế với 1.200 thỏa thuận trị giá 1.526 tỷ đồng.

Thứ hai, cơ cấu chủ thể cung ứng công nghệ tại chợ có sự tham gia đa dạng nhưng viện trường vẫn giữ vai trò nòng cốt. Các tổ chức khoa học và công nghệ chiếm tỷ trọng cao nhất với 46,3%, khối doanh nghiệp chiếm 43,1% và các nhà sáng chế cá nhân chiếm 9,6%.

Thứ ba, năng lực cung ứng công nghệ nội sinh còn tồn tại khoảng cách rất lớn so với nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Các tổ chức nghiên cứu trong nước chỉ đáp ứng được từ 30% đến 40% yêu cầu đổi mới của doanh nghiệp, trong khi tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học tại các trung tâm lớn như Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạt khoảng 15% đến 20%.

Thứ tư, cơ cấu nhu cầu tìm mua công nghệ tập trung cao độ ở một số ngành sản xuất trọng điểm: Cơ khí - chế tạo máy chiếm tỷ lệ áp đảo 35,9%, Điện - điện tử - tự động hóa chiếm 17,6%, Vật liệu - hóa chất - dược liệu chiếm 12,9%, trong khi có tới 41,91% doanh nghiệp thừa nhận đang sử dụng công nghệ lạc hậu và 56% doanh nghiệp phụ thuộc vào việc nhập khẩu máy móc thiết bị từ nước ngoài với kim ngạch từ 6 đến 7 tỷ USD mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng mạnh mẽ về giá trị ký kết qua các kỳ Techmart minh chứng đây là công cụ xúc tiến thương mại hóa hiệu quả nhất của thị trường công nghệ Việt Nam. Tuy nhiên, sự chênh lệch lớn giữa số biên bản ghi nhớ được ký tại chợ và số hợp đồng thực tế được triển khai sau 1 đến 2 năm bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân căn cốt. Phần lớn công nghệ của các viện, trường đưa ra chào bán còn mang tính đơn chiếc, chưa qua thử nghiệm sản xuất thực tế, thiếu chứng nhận kiểm định chất lượng và chưa được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Về phía bên cầu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số lượng lớn nhưng thiếu năng lực tài chính, hạn chế về trình độ thẩm định và e ngại rủi ro vận hành nên thường ưu tiên nhập khẩu công nghệ ngoại nhập. Bên cạnh đó, các dịch vụ tư vấn pháp lý, giám định và định giá công nghệ tại các sàn giao dịch chưa thực sự chuyên nghiệp để tạo lập niềm tin thị trường. Để hỗ trợ các nhà quản lý theo dõi trực quan, toàn bộ cơ cấu nhu cầu tìm mua công nghệ theo từng nhóm ngành nên được biểu diễn dưới dạng biểu đồ tròn phân bổ tỷ trọng, trong khi biến động giá trị hợp đồng ký kết qua các kỳ Techmart quốc gia và quốc tế cần được trình bày qua biểu đồ cột kết hợp đường xu hướng nhằm làm nổi bật quy mô phát triển của thị trường qua từng giai đoạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, xây dựng và hoàn thiện cơ chế tài chính hỗ trợ bên cầu công nghệ: Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính ban hành chính sách hỗ trợ từ 30% đến 50% kinh phí chuyển giao công nghệ từ Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn 2014 đến 2016, ưu tiên các dự án ứng dụng công nghệ nội sinh tạo ra sản phẩm xuất khẩu.

Hai là, nâng cao chất lượng và năng lực thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu: Các viện nghiên cứu, trường đại học trên toàn quốc thành lập bộ phận xúc tiến chuyển giao công nghệ chuyên trách từ năm 2015 đến năm 2018, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ kết quả nghiên cứu khoa học được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ và định giá thương mại lên tối thiểu 40% trước khi đưa vào giao dịch tại Techmart.

Ba là, chuyên nghiệp hóa và mở rộng hạ tầng Sàn giao dịch công nghệ trực tiếp và trực tuyến: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ các địa phương đầu tư nâng cấp cổng Techmart ảo trong giai đoạn 2014 đến 2020, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng số lượt truy cập và giao dịch trực tuyến trên 25% mỗi năm, đồng thời xây dựng quy chuẩn đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề cho đội ngũ môi giới, giám định công nghệ.

Bốn là, thiết lập hệ thống dịch vụ tư vấn và theo dõi chuyên sâu hậu Techmart: Ban tổ chức các kỳ Techmart phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội doanh nghiệp triển khai quy trình hỗ trợ pháp lý, thẩm định kỹ thuật và đàm phán hợp đồng trong thời hạn 12 đến 24 tháng sau mỗi kỳ chợ, phấn đấu nâng tỷ lệ chuyển đổi từ biên bản ghi nhớ sang hợp đồng kinh tế chính thức đạt trên 60%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực chứng để xây dựng quy hoạch phát triển sàn giao dịch công nghệ, hoàn thiện cơ chế quản lý và tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại quy mô quốc gia, cấp vùng.

Thứ hai, ban giám đốc các viện nghiên cứu, ban giám hiệu các trường đại học và các nhà khoa học: Nghiên cứu giúp nhận diện rõ xu hướng nhu cầu công nghệ của thị trường, từ đó định hướng lại hoạt động nghiên cứu gắn liền với thực tiễn sản xuất, nâng cao kỹ năng tiếp thị và khai thác thương mại tài sản trí tuệ.

Thứ ba, lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp khoa học công nghệ và đại diện các hiệp hội ngành nghề: Tài liệu cung cấp bức tranh toàn cảnh về năng lực cung ứng thiết bị nội địa, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược đổi mới công nghệ tối ưu, giảm thiểu chi phí đầu tư và tiếp cận nguồn tư vấn pháp lý tin cậy trên các sàn giao dịch.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Kinh doanh, Kinh tế phát triển: Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị, cung cấp phương pháp luận chuẩn mực và hệ thống số liệu khảo sát phong phú phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về thị trường công nghệ tại các nước đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Techmart đóng vai trò then chốt như thế nào trong sự phát triển của thị trường công nghệ Việt Nam? Trả lời: Techmart đóng vai trò là cầu nối trực tiếp và hữu hiệu nhất giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học với cộng đồng doanh nghiệp. Qua hơn 10 năm tổ chức với 5 kỳ Techmart quy mô quốc gia và quốc tế, sự kiện đã tạo lập môi trường giao thương minh bạch, hỗ trợ ký kết hàng ngàn thỏa thuận trị giá hàng nghìn tỷ đồng, thúc đẩy quá trình thương mại hóa tri thức khoa học thành giá trị sản xuất thực tế.

Câu hỏi 2: Tại sao tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các viện, trường tại Việt Nam còn ở mức thấp? Trả lời: Tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 15% đến 20% do hoạt động nghiên cứu khoa học trong thời gian dài chưa bám sát đơn đặt hàng thực tiễn của doanh nghiệp. Ngoài ra, phần lớn các tổ chức khoa học thiếu kinh phí triển khai thử nghiệm bán công nghiệp, hạn chế về năng lực tiếp thị và chưa chú trọng việc định giá cũng như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho sản phẩm.

Câu hỏi 3: Những trở ngại lớn nhất của doanh nghiệp trong nước khi tìm kiếm và đổi mới công nghệ tại Techmart là gì? Trả lời: Khoảng 41,91% doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ lạc hậu nhưng phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa bị hạn chế về năng lực tài chính và nhân lực kỹ thuật. Hơn nữa, nguồn cung công nghệ nội sinh tại chợ chỉ mới đáp ứng được khoảng 30% đến 40% yêu cầu đổi mới, khiến doanh nghiệp có tâm lý e ngại rủi ro và lựa chọn nhập khẩu máy móc ngoại nhập.

Câu hỏi 4: Mô hình Techmart ảo và Sàn giao dịch công nghệ trực tiếp mang lại lợi ích gì cho các bên giao dịch? Trả lời: Mô hình Techmart ảo và sàn giao dịch tại 24 Lý Thường Kiệt giúp xóa bỏ giới hạn về không gian và thời gian, duy trì hoạt động giao dịch thường xuyên. Điển hình trong năm 2013, hệ thống đã thu hút 68.748 lượt tìm kiếm và hỗ trợ hơn 450 thương vụ mua bán thành công, cung cấp thông tin minh bạch và dịch vụ tư vấn pháp lý liên tục cho doanh nghiệp.

Câu hỏi 5: Cần triển khai giải pháp cụ thể nào để nâng cao tỷ lệ thực hiện hợp đồng sau các kỳ Techmart? Trả lời: Cần thiết lập tổ công tác theo dõi hậu Techmart trong thời gian 12 đến 24 tháng để hỗ trợ các bên hoàn thiện thủ tục pháp lý, thẩm định công nghệ và đàm phán hợp đồng. Đồng thời, Nhà nước cần đẩy mạnh giải ngân vốn vay ưu đãi từ Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia nhằm trợ lực tài chính kịp thời cho doanh nghiệp mua công nghệ.

Kết luận

  • Techmart là mô hình xúc tiến thương mại hóa kết quả nghiên cứu hiệu quả hàng đầu, tạo động lực cốt lõi cho sự hình thành và phát triển của thị trường công nghệ Việt Nam giai đoạn 2003 đến 2013.
  • Hoạt động kết nối cung cầu ghi nhận giá trị ký kết lên tới hàng nghìn tỷ đồng nhưng còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn do thiếu hệ thống luận cứ khoa học bài bản và thiếu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ.
  • Nguồn cung công nghệ nội sinh mới chỉ đáp ứng 30% đến 40% nhu cầu thực tế, đòi hỏi các cơ sở nghiên cứu phải đổi mới phương thức nghiên cứu theo định hướng thị trường.
  • Bên cầu công nghệ đối mặt với nhiều rào cản tài chính và năng lực thẩm định khi có tới 41,91% doanh nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu.
  • Tổ chức trung gian và mạng lưới Techmart ảo giữ vai trò quyết định trong việc giảm thiểu chi phí giao dịch, bảo đảm minh bạch thông tin và bảo vệ quyền lợi các bên tham gia.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở thực chứng, đánh giá đúng bản chất các mắt xích của thị trường công nghệ và đề xuất lộ trình giải pháp tổ chức thực hiện khả thi cho giai đoạn 2014 đến 2020. Để thị trường công nghệ Việt Nam thực sự bứt phá và hội nhập thành công, các nhà hoạch định chính sách, các viện trường và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các khuyến nghị của công trình nghiên cứu ngay từ hôm nay.