ĐẶT VẤN ĐỀ Giống cây trồng là nhân tố quan trọng quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất ngành trồng trọt. Nhờ sử dụng bộ giống cây trồng tốt, phong phú, đa dạng mà những năm qua nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, an ninh lương thực quốc gia được giữ vững và là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, người nông dân trồng lúa vẫn có thu nhập khá thấp so với mức thu nhập trung bình của cả nước mà nguyên nhân chính liên quan đến năng suất và phẩm chất lúa gạo trong nước. Việc cải tiến giống lúa để nâng cao chất lượng gạo là một cách tiếp cận với mục tiêu phát triển sản xuất lúa gạo hiệu quả, bền vững, giúp chủ động cung cấp lương thực trong điều kiện diện tích trồng lúa bị co hẹp của giai đoạn công nghiệp hóa, đồng thời phục vụ hiệu quả mục tiêu xuất khẩu lúa gạo của quốc gia.
Thái Bình là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng có lịch sử trồng lúa lâu đời và luôn đạt được kết quả cao về năng suất lúa. Tuy nhiên hiện nay đầu tư chưa ngang tầm để ngành sản xuất lúa có thể phát triển mạnh hơn; một phần do diện tích sản xuất lúa đang dần thu hẹp lại nhường chỗ cho phát triển giao thông nội đồng phục vụ xây dựng nông thôn mới, quy hoạch xây dựng các công trình, chuyển đổi mục đích sử dụng; một phần sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch hại và một phần công tác giống chưa được đầu tư thoả đáng. Do đó, Thái Bình đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ trong đó đặc biệt ưu tiên các tiến bộ về giống lúa mới trong sản xuất nông nghiệp, thay thế các giống lúa dài ngày bằng các giống lúa ngắn ngày có năng suất cao và chất lượng tốt để thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu từ 2 vụ lúa sang 2 vụ lúa 1 vụ màu. Vụ mùa 2016 tổng diện tích lúa trong toàn tỉnh đạt 80.370 ha giảm 537 ha so với mùa 2015 trong đó diện tích các giống lúa ngắn ngày đạt 78.343 ha (chủ yếu là BC15) chiếm 97,5% tổng diện tích lúa, các giống có chất lượng gạo ngon (nếp các loại, Bắc thơm 7, Hương thơm 1.112 ha chiếm 22,5% tổng diện tích lúa tăng 1,2% so với năm 2015 (Cục thống kê Thái Bình, 2016).
Vụ xuân 2017 tổng diện tích lúa đạt 79.110 ha, giảm so với xuân 2016 là 581 ha. Vụ xuân 2017 Thái Bình loại bỏ cấy giống lúa xuân dài ngày ra khỏi cơ cấu sản xuất, nhưng diện tích các giống lúa xuân dài ngày vẫn còn 2.225 ha chiếm 2,8%, các 1 c giống lúa ngắn ngày có diện tích 76.885 ha chiếm 97,2% tổng diện tích lúa, các giống có chất lượng gạo ngon (kể cả giống nếp dài ngày) đạt 23.854 ha chiếm trên 30,1%, lúa thuần có năng suất cao chiếm 68,5% gồm các giống lúa lai, Q5, BC15, TBR-1. Do đó việc đưa các giống lúa thuần mới, ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt vào cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Tỉnh là vô cùng cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên tôi thực hiện đề tài “Đánh giá và tuyển chọn dòng lúa ngắn ngày, chất lượng tại Thái Bình”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng, khả năng chống chịu một số sâu bệnh hại chính của các dòng, giống lúa mới trong các thời vụ khác nhau nhằm chọn ra một số dòng, giống lúa mới ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác tại Thái Bình. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này được thực hiện trên đối tượng là các dòng, giống lúa mới chọn tạo và có so sánh với đối chứng ở 2 thời vụ khác nhau tại tỉnh Thái Bình. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 1. Ý nghĩa khoa học - Mô tả được các đặc điểm hình thái, năng suất và chất lượng của các dòng, giống lúa thuần, ngắn ngày, chất lượng có triển vọng tại tỉnh Thái Bình.
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ việc cần thiết bố trí các dòng, giống lúa thuần ngắn ngày, chất lượng có khả năng sinh trưởng, phát triển theo mùa vụ, theo các trà lúa áp dụng cho tỉnh Thái Bình. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá và tuyển chọn một số dòng, giống lúa thuần mới ngắn ngày, chất lượng tốt có khả năng thay thế các giống cũ, bổ sung vào cơ cấu giống gieo trồng tại Thái Bình. Từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, thúc đẩy sản xuất theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá. - Góp phần làm phong phú thêm bộ giống lúa thuần ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt đang sản xuất tại tỉnh Thái Bình.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới Lúa gạo là một loại lương thực quan trọng góp phần vào an ninh lương thực thế giới do lúa gạo đang nuôi sống 3,5 tỷ người, chiếm tới 50% dân số thế giới (Liang et al., 2017) và cung cấp hơn 19% calo cho dân số toàn cầu (Yadav et al. Năm 2016 sản lượng lúa thế giới đạt 748 triệu tấn (496,7 triệu tấn gạo), (1,1%) so với năm 2015.
Châu Á dẫn đầu về sản lượng tăng trong năm 2016, với kỷ lục 676,5 triệu tấn, tăng 7,3 triệu tấn so với năm 2015. Điều kiện gieo trồng ở hầu khắp châu Phi cũng thuận lợi nên sản lượng năm 2016 ước tính tăng 5% lên kỷ lục cao 30,2 triệu tấn (Faostatistics, 2017). Trong niên vụ 2016/17, sản lượng gạo thế giới đạt mức cao kỷ lục trong tháng 10/2016 nhờ vào vụ mùa bội thu tại Thái Lan. Lượng gạo xuất khẩu tăng của Ấn Độ và Thái Lan giúp bù đắp lượng xuất khẩu giảm tại Việt Nam, Brazil và Hoa Kỳ.
Lương thực dự trữ tăng do mức điều chỉnh tại Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và Ai Cập. Dự trữ gạo thế giới đạt mức cao kỷ lục với mức dự trữ kết thúc niên vụ 2016/17 đạt 483 triệu tấn, tăng 11 triệu tấn so với niên vụ trước. Sản lượng dự trữ tại các quốc gia sản xuất hàng đầu như Trung Quốc và Ấn Độ tăng lần lượt là 1% và 2%. Ngoài ra, sản lượng gạo của Thái Lan - quốc gia lớn thứ hai thế giới tăng 18% và Hoa Kỳ là 23%.
Tỷ lệ dự trữ tại Thái Lan, Ấn Độ được dự báo giảm nhẹ trong những năm tới vì mức tiêu thụ được dự báo sẽ hồi phục và xuất khẩu sẽ tiếp tục tăng mạnh. Đối với Trung Quốc, mức tiêu thụ tương đối ổn định và với những chính sách thúc đẩy mở rộng sản xuất lương thực, Trung Quốc được dự báo sẽ nắm giữ 60% sản lượng gạo dự trữ toàn cầu (Vietrade, 2016). Dự báo cung cầu gạo thế giới của Bộ nông nghiệp Mỹ (USDA) niên vụ 2016/17 trong tháng 10/2016 Đơn vị: triệu tấn Cung Tiêu thụ Dự trữ Dự trữ Niên vụ 2016/17 Sản Nhập Nội Xuất đầu vụ cuối vụ lượng khẩu địa khẩu Thế giới 115,6 483,26 38,71 478,16 41,22 120,7 Mỹ 1,48 7,49 0,75 4,22 3,56 1,94 Các nước còn lại 114,12 475,77 37,96 473,93 37,67 118,77 Nước XK chủ yếu 28,31 159,8 0,66 132,6 29,5 26,67 Ấn Độ 17,8 106,5 0 97 10 17,3 Pakistan 0,92 6,9 0,01 2,8 4,2 0,83 Thái Lan 7,87 18,6 0,25 10,6 9,5 6,62 Việt Nam 1,72 27,8 0,4 22,2 5,8 1,92 Nước NK chủ yếu 9,01 65,36 12,05 76,75 1,08 8,59 Brazil 0,25 8,03 0,65 7,9 0,65 0,38 EU-27 1,31 2,03 1,75 3,5 0,28 1,3 Indonesia 3,51 36,6 1,25 37,7 0 3,66 Nigeria 0,6 2,7 2 5 0 0,3 Philippines 1,96 12 1,2 13,3 0 1,86 Trung Đông 0,88 2,06 3,65 5,9 0 0,69 Burma 0,89 12,5 0 10,85 1,7 0,84 Trung Mỹ và Caribê 0,57 1,77 1,8 3,53 0,02 0,58 Trung Quốc 63,74 146,5 5 144 0,3 70,94 Ai Cập 0,92 4,55 0,3 4 0,3 1,48 Nhật Bản 2,49 7,68 0,7 8,7 0,09 2,09 Mexico 0,12 0,17 0,75 0,89 0 0,15 Hàn Quốc 1,83 4 0,41 4,33 0 1,9 Nguồn: VITIC/USDA 4 c Theo Báo cáo triển vọng Lương thực được FAO công bố, sản lượng gạo toàn cầu năm 2017 sẽ tăng 0,7% so với năm 2016 lên mức hơn 502 triệu tấn nhờ các chính sách thúc đẩy sản xuất tại châu Á và sự phục hồi sản lượng tại Nam Mỹ và Australia. FAO nhận định 5 nước có sản lượng gạo lớn nhất trong năm 2017 lần lượt là Trung Quốc (hơn 142 triệu tấn), Ấn Độ (trên 110 triệu tấn), Indonesia, Bangladesh và Việt Nam.
Sau 2 năm suy giảm, khối lượng gạo xuất khẩu toàn cầu được dự báo sẽ tăng 5% trong năm 2017 do các nước nhập khẩu chủ chốt tại châu Á tăng cường lượng nhập khẩu nhằm giảm sức ép lạm phát và bổ sung nguồn gạo dự trữ. Khối lượng gạo xuất khẩu toàn cầu dự kiến đạt hơn 44 triệu tấn so với gần 44 triệu tấn của năm 2016, trong đó Ấn Độ sẽ duy trì vị thế nước xuất khẩu gạo lớn nhất, đồng thời Thái Lan và Việt Nam được dự báo cũng sẽ tăng đáng kể khối lượng xuất khẩu (Vietrade, 2016). Đối với giá cả của lúa gạo, mặc dù đã có những tác động do sản lượng gạo giảm trong niên vụ 2015/16, nhưng giá gạo vẫn giảm do sức ép khi sắp bước vào vụ thu hoạch và nhu cầu giảm tại một số thị trường nhập khẩu truyền thống. Giá gạo xuất khẩu của Thái Lan giảm 13 USD xuống còn 378 USD/tấn, Ấn Độ giảm 5 USD xuống còn 350 USD/tấn, Pakitstan giảm 15 USD xuống còn 325 USD/tấn, Việt Nam giảm 10% xuống còn 337 USD/tấn (Vietrade, 2016).
Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại Việt Nam Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo với những thành tựu được quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong các quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Ngoài việc đảm bảo vững chắc an ninh lương thực trong nước, trong gần hai thập niên qua, chúng ta đã xuất khẩu mỗi năm từ 6-7 triệu tấn, Việt Nam đã góp phần to lớn vào an ninh lương thực toàn cầu và an ninh lương thực khu vực (Nguyễn Đình Luận, 2013). Mặc dù có thành tựu to lớn nhưng ngành lúa gạo còn nhiều tồn tại, hạn chế.
Tăng trưởng sản xuất lúa gạo trong thời gian qua chủ yếu theo chiều rộng, chất lượng gạo chưa cao, số giống gieo cấy nhiều, hoạt động chế biến sâu còn hạn chế, sản xuất lúa gạo sử dụng nhiều tài nguyên nhưng hiệu quả kinh tế thấp và gây ra nhiều tác động tiêu cực tới môi trường.