Chương 1: Cơ sở lý luận va cơ sở thực tiễn nghiên cửu khu kinh tế cửa khâu Chương 2: Đánh gia thực trạng phát triển của khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bai tinh Tây Ninh Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bai tinh Tây Ninh Trang 15 PHAN NỘI DUNG CHUONG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CƠ SỞ THỰC TIEN NGHIÊN CỨU KHU KINH TE CỬA KHAU I. Khái niệm về khu kinh tế cửa khẩu và các khái niệm có liên quan L. Khu kinh tế Khu kinh tế ở Việt Nam: là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường dau tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nha dau tư, có ranh giới địa ly xác định, được thanh lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại nghị định này[8}.
Khu kinh tế được tô chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đỏ thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng vùng.Cửa khẫu {7] - Cửa khẩu bién giới đất liên bao gồm: cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và cửa khẩu phụ, được mo trên các tuyển đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa trong khu vực biến giới theo hiệp định vẻ quy chế biên giới đã được ki kết giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính phủ nước lang giéng dé thực hiện việc xuất, nhập khẩu qua lại biên giới quốc gia. + Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hang hóa của Việt Nam, nước láng giềng vả nước thứ ba xuất, nhập khẩu qua biên giới quốc gia. + Cửa khâu chính (cửa khâu quốc gia) được mở cho người, phương tiện hang hóa của Việt Nam, nước láng giéng xuất, nhập khẩu qua biên giới quốc gia. + Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam và nước lang giéng ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua biên giới quốc gia.
Khu kinh té cửa khẩu * Theo mô hình kinh tế - xã hội - Khu kinh tế cửa khẩu: Là một loại hình khu kinh tế, lay giao lưu kinh tế biên giới qua cửa khâu (cửa khâu quốc tế hoặc cửa khâu quốc gia) lam nòng cốt, có ranh giới xác Trang 16 định, được thành lập bởi cắp có thẩm quyền, có cơ chế hoạt động riêng, mô hình quản lý riêng vả có quan hệ chặt chẽ với khu vực xung quanh và nội địa phía sau. - Khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam: là không gian kinh tế xác định, gắn với các cửa khẩu quốc tế hay các cửa khẩu chính của quốc gia, có hoặc không có dân cư sinh sông và được áp dụng những chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dua trên việc quy hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bên vững các nguồn lực, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập(8}. Phát triển kinh tế cửa khẩu là một xu hưởng phát triển mới trong chính sách phát triển của nước ta theo xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế nhằm khai thắc các tiểm năng và nguồn lực vẻ vị trí địa lý kinh tế và chính trị của dải biên giới mả tâm điểm là hình thành một khu vực đầu mỗi giao thông - cửa khẩu biên giới đất liền thông thoáng và có cơ sở pháp lý cùng hệ thông kết cau ha tầng với những chính sách phát triển phù hợp đẻ tạo động lực mới cho quan hệ hợp tác kinh tế, thương mai, đầu tư giữa nước ta với các nước láng giéng va qua đó tới các nước khác trong khu vực. * Theo mỏ hình không gian quy hoạch xảy dung - Khu kinh tế cửa khẩu: là một hình thái kinh tế bao gồm 3 khu vực chức nang: Khu vực cửa khẩu (nơi đặt vị trí cửa khẩu chính va phụ), khu vực đô thị va khu vực sản xuất nông, lam, công nghiệp.
Khu kinh tế cửa khẩu được quy hoạch sát đường biên giới hai quốc gia và chịu anh hưởng phát triển của khu vực cửa khẩu nước láng giẻng. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu Các KKTCK được xây dựng đều gắn lién với các cửa khẩu trên biên giới quốc gia và các cửa khâu tương ứng của nước láng giểng nên vấn để KKTCK không chỉ liên quan đến các vấn dé kinh tế - xã hội trong nước mà còn liên quan đến vấn dé rộng lớn hơn, đó là chính trị, quốc phòng - an ninh khu vực, chính sách biên giới, đường lếi mở cưa của các nước láng giéng có chung biên giới. Do đó, có thé nêu lén một số nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các KKTCK ở Việt Nam như sau: 1. Các yếu té tự nhiên Việc lựa chọn xây dựng các KKTCK trước hết phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, đó phải là nơi cỏ vị trí địa lý thuận lợi, phù hợp với giao lưu kinh tế - thương Trang L7 mại biển giới.
Là cầu nối giữa kinh tế trong nước với kinh tế ngoai nước, bởi đây là một trong những đầu mối phát triển không gian kinh tế mở của nước ta. do nhiều nét tương đồng về khi hậu. môi trường sinh thái, trình độ phát triển, cho nên doi hoi phái có các chủng loại hàng hóa đáp ứng được nhu cau trao đổi, có loại được sản xuất tại chỗ, có loại được khai thác trong nội địa theo nguyén tắc xuất những hàng hóa ma thị trường bạn cần mà ta cỏ lợi thé và nhập những hang hóa chúng ta chưa có khả nang dap ứng cho thị trường trong nước. Vi vậy, giữa các nước lang giéng thường có sự bô sung cho nhau về các nhỏm hang vốn được khai thác dựa trên cơ sở tận dụng các yếu tổ tự nhiên đặc thủ của nước mình tạo nên những lợi thế cạnh tranh về hang hóa giữa hai nước [4}.
Yếu tố lịch sử Quan hệ giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước láng giéng có từ lâu đời, xuất phat từ các chuyến cổng phẩm bang giao giữa các nước, cũng như hình thành từ các phiên chợ biên giới dé trao đổi các vật phẩm địa phương nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và sản xuất tại chỗ. Cứ như thể các tuyến đường mon biên giới hinh thành là cơ sở phát triển các tuyển, hành lang kinh tế - giao thông sau nay. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế cảng phát triển, lượng hàng hóa luân chuyển trên thị trường cảng tăng cao nhằm dap ứng nhu cầu cơ bản vả ngày càng cao của người tiêu dùng. Muốn thé, các dòng vật chat đâu vao, sản phẩm đâu ra phải đủ lớn để đáp ứng nhu câu đó.
Kinh tế trong nội địa phát triển, các dòng hàng hóa, dịch vụ được vận chuyển nhanh với quy mô ngày cảng lớn ra các vùng biên, thông qua cửa khẩu đến thị trường các nước [4]. Đồng thời, trình độ phát triển kinh tế còn chi phối cả cơ cấu hang hóa xuất nhập khâu, kim ngạch trao đôi song phương, đa phương cũng như quy mô và bán kính lan tỏa hàng hóa. Bên cạnh yếu tổ tự nhiên, lịch sử thi trình độ phát triển kinh tế thi van dé xã hội, trình độ dân trí, phong tục tập quán, cũng ảnh hưởng nhiễu đến sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu. Dân số đồng sẽ tạo ra nguồn lao động đổi dio cho khu kinh tế cửa khẩu, đồng thời trình độ lao động, dân trí của người dân cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của khu kinh tế cửa khau thong qua hoạt động sản xuất hang hoá, bảo vệ an ninh biên giới quốc gia.
Quan hệ kinh tế - chính trị giữa các nước lắng giéng Mối quan hệ chính trị của các nước trong khu vực, mà trực tiếp lủ quan hệ giữa các nước láng giéng có chung đường biên ảnh hưởng rat nhiều đến sự hình thanh va phát triên KKTCK nước ta. Một thực tế giải thích, vì sao mô hình này ở một số nước đã thực hiện rất thành công nhưng ở Việt Nam mãi đến 1996 mới tien hành thi diem. Hơn nữa thực tiễn lịch sử ở Việt Nam cũng đã chứng kiến nhiều thời ki, khí quan hệ giữa nước ta với các nước láng giéng trở thành điểm nóng vẻ an ninh, chính trị, trật tự - an toan xã hội thi hàng loạt các cửa khẩu biên giới phải đóng cửa, Và khi đó trao đi thương mại hẳu như không có. Vì vậy, vấn để nảy không chỉ có vai trò sống còn, ma còn có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển khu vực cửa khẩu.
Vai trò của khu kinh tế cửa khẩu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1. Đối với sự phát triển của nên kinh tẾ Các khu kinh tế cửa khẩu được hình thanh nhằm mục dich phát huy lợi the vẻ quan hệ kinh tế - thương mại cửa khẩu biên giới. thu hút các kẻnh hang hoá, đầu tư, thương mại, dịch vụ vả du lịch từ các nơi khác trong cả nước đến và từ nước ngoải vao nội địa thông qua cơ chế chính sách ưu dai tại các khu kinh tế cửa khẩu. Hơn nữa, trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và du lịch cũng có những đòi hỏi tương ty, cin phải mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để nhanh chóng hội nhập với các nước trong khu vực va trên thé giới.
Điều nảy càng có ý nghĩa đổi với nên kinh tế hàng hoá chậm phát triển, thị trường còn nhỏ hẹp, sức mua thấp, khả năng cạnh tranh trước mắt của nên kinh tế con thấp kém như Việt Nam [6]. Việc hình thành khu kinh tế cửa khẩu đã làm phong phú thêm tinh đa dang của các loại hình khu kính tế như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở được xây dựng tại nước ta trong thời ki vira qua. Va cũng chính việc hình thành các khu kinh tế cửa khẩu đã tạo ra một mỏ hình phát triển kinh tế mở nhằm khơi dậy và phát huy tiém năng của địa bàn có các cửa khẩu. Do có nhiều chính sách ưu nên các khu kinh tế cửa khâu có sức thu hút đầu tư khả mạnh không chi doi với các nha dau tư trong nude ma ca các nha dau tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, KKTCK còn góp phan tích cực vao chuyển dịch cơ cau kinh tế, tạo ra một hệ thống cơ sở hạ tằng mới.