CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN VỀ TUÂN THỦ THUẾ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tuân thủ thuế tại doanh nghiệp 1. Khái niệm về tuân thủ thuế Tuân thủ thuế được định nghĩa theo rất nhiều quan điểm khác nhau song đều xoay quanh hai khía cạnh. Thứ nhất là về lí thuyết, tuân thủ thuế là sự tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ thuế của NNT.
Thứ hai, dưới góc độ pháp lí, tuân thủ thuế là hành vi bắt buộc NNT thực hiện các nghĩa vụ thuế của mình theo quy định của pháp luật thuế. Theo quan điểm của James và Alley (2002, trang 32) tuân thủ thuế được định nghĩa là “sự tự nguyện của cá nhân và tổ chức nộp thuế trong việc hành động theo các quy định của pháp luật về thuế mà không cần sự cưỡng chế từ cơ quan quản lý thuế”. Mặt khác, McKerchar (2003) lại cho rằng tuân thủ thuế có nghĩa là NNT kê khai đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp; nộp thuế đúng hạn và lưu trữ đầy đủ hồ sơ theo các quy định của pháp luật và quyết định của tòa án. Theo quan điểm của Tổng cục thuế Việt Nam, tuân thủ thuế là việc chấp hành nghĩa vụ của NNT theo đúng quy định của pháp luật bao gồm: đăng kí thuế, kê khai thuế và tính – nộp – báo cáo thuế.
Bất kì vi phạm nào trong các hoạt động trên đều dẫn đến sự không tuân thủ thuế ở các mức độ khác nhau. Tựu trung lại, tuân thủ thuế là hành vi bắt buộc đối với tất cả các chủ thể trong xã hội, bao gồm: cơ quan thuế, cơ quan ban ngành khác có liên quan theo luật định và NNT, trong đó vấn đề tuân thủ thuế của NNT luôn nhận được sự quan tâm nhất. Thể hiện ở việc NNT chấp hành đúng, đủ và kịp thời các tiêu chí về thời gian, độ chính xác và trung thực các nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, tuân thủ thuế vẫn là vấn đề đau đầu đối với cả cơ quan quản lí thuế và NNT, nhất là khi hầu hết các nước trên thế giới – trong đó có Việt Nam – đang áp dụng quản lí thuế theo cơ chế hiện đại.
Theo cơ chế này, NNT sẽ tiến hành tự khai, tự tính và nộp thuế vào NSNN dựa trên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, căn cứ theo những hướng dẫn được quy định tại luật thuế. Đồng thời, NNT phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực về những số liệu và báo cáo về thuế của mình trước pháp luật, cụ thể là trước sự kiểm tra và giám sát của cơ 6 quan quản lí thuế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc áp dụng cơ chế quản lí thuế hiện đại mang lại nhiều lợi ích như tăng hiệu quả thực hiện thuế theo hướng chuyên môn hóa, tăng tính minh bạch, tiết kiệm nhiều thời gian và chi phí cho cả cơ quan quản lí thuế và NNT. Song bên cạnh những lợi ích mà cơ chế quản lí này mang lại thì tình trạng thất thoát nguồn thu NSNN từ thuế do NNT có các hành vi gian lận, trốn thuế, tránh thuế hoặc gặp khó khăn trong việc tuân thủ thuế vẫn là bài toán khó giải của các cơ quan chức năng.
Vai trò của tuân thủ thuế Đối với nhà nước: Tuân thủ thuế góp phần ổn định nguồn ngân sách quốc gia. Bất kể thể chế nhà nước nào muốn tồn tại, duy trì và phát triển cũng đều cần có ngân sách. Nguồn thu ngân sách quốc gia có thể đến từ nhiều hình thức khác nhau: thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu ngoài thuế như vay trong nước hoặc nước ngoài, quyên góp,…trong đó, thu từ thuế là nguồn thu quan trọng và chiếm tới trên 80% trong tổng cơ cấu nguồn thu NSNN. Ang-ghen, nhà triết học người Đức đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế má”.
Mặc dù không mang tính hoàn trả trực tiếp, thực chất các khoản thu từ thuế vào ngân sách đều nhằm phục vụ cho mục đích chi tiêu công, phục vụ chính lợi ích của công dân như: an ninh quốc phòng, giáo dục, các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đường xá, cầu cống, hệ thống đèn chiếu sáng đô thị, các chương trình tiêm chủng vắc xin,…Ngoài ra, thuế cũng chính là công cụ quan trọng để chính phủ thực hiện điều tiết thị trường, điều tiết thu nhập, điều tiết nền kinh tế và hướng dẫn tiêu dùng theo chiều hướng tích cực. Mặt khác, việc NNT tuân thủ thấp hoặc không tuân thủ thuế là một trong số những nguyên nhân dẫn đến thất thoát nguồn thu NSNN, gây tổn hại lớn đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một đất nước. Không chỉ tạo gánh nặng cho nền tài chính quốc gia, gây thiếu hụt nguồn tài lực phục vụ cho mục đích duy trì và phát triển xã hội, hành vi không tuân thủ thuế còn là nguyên nhân làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội do quyền lực công cộng và chức năng điều tiết thu nhập của nhà nước không được duy trì. 7 Đối với người nộp thuế: NNT nói chung đều sẽ được hưởng lợi ích từ việc tuân thủ nghiêm túc các quy định về thuế.
Những lợi ích này không biểu hiện trực tiếp bằng tiền do bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thay vào đó, NNT sẽ được nhận lại từ đóng góp của mình thông qua các dự án đầu tư của ngân sách nhà nước vào hoạt động sản xuất và cung cấp các dịch vụ công, hàng hóa công. Tuy nhiên, cũng chính vì thuế mang tính hoàn trả không trực tiếp và lợi ích mà NNT nhận lại khó có thể đo đếm rõ ràng, hoặc do NNT cảm thấy nó không cân xứng với số tiền đã nộp. Đồng thời, các nghĩa vụ thuế cần tuân thủ tương đối đa dạng, số tiền thuế phải nộp đối với từng nghĩa vụ thuế đó cũng không phải là con số nhỏ và nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của NNT.
Những lí do kể trên chính là nguyên nhân mà hiện nay tình trạng NNT có hành vi gian lận thuế ngày càng nhiều, gây khó khăn cho công tác quản lí của cơ quan thuế. Phân loại tuân thủ thuế Dựa vào tính chất tuân thủ: Theo quan điểm của Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lí thuế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tuân thủ thuế được phân thành 2 nhóm: Nhóm 1: Tuân thủ về mặt hành chính Có nghĩa là NNT chấp hành các quy định hành chính của pháp luật thuế về các hoạt động kê khai thuế và nộp thuế đầy đủ, đúng hạn. Việc cơ quan thuế xem xét và đánh giá tính tuân thủ thuế của NNT về mặt hành chính thường mang tính chất đơn giản hơn do mọi quy định liên quan về tuân thủ quy định hành chính về thuế thường được trình bày rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Nhóm 2: Tuân thủ về mặt kĩ thuật Xác định tính tuân thủ về mặt kĩ thuật của NNT là công việc phức tạp hơn so với nhóm tuân thủ hành chính.
Lí do và bởi cơ quan thuế cần theo dõi và nắm bắt được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác có liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT. Tuân thủ kĩ thuật tức là việc NNT tính toán số tiền thuế phải nộp và nộp chúng đúng theo các quy định trong luật thuế. Điều này có nghĩa là nếu xuất 8 hiện bất cứ một sự không rõ ràng nào trong luật thuế sẽ ngay lập tức gây khó khăn cho NNT trong việc xác định số thuế phải nộp. Dựa vào nội dung tuân thủ: Tuân thủ thuế của NNT được phân chia thành các loại như sau: - Tuân thủ về đăng kí thuế: bao gồm việc NNT đăng kí thuế và được cấp mã số thuế để nhận diện và phục vụ công tác quản lí thực hiện các nghĩa vụ thuế.
- Tuân thủ về nộp hồ sơ khai thuế: theo cơ chế quản lí thuế hiện đại hiện nay đang được cơ quan thuế nhiều quốc gia áp dụng là tự tính – tự khai – tự nộp thuế thì NNT cần đối chiếu theo các quy định trong luật thuế để tiến hành lập và nộp các hồ sơ khai thuế thuộc nghĩa vụ thuế của mình một cách đầy đủ, đúng thời hạn. - Tuân thủ về báo cáo thông tin: bao gồm việc tuân thủ mọi quy định về hóa đơn, chứng từ và các thông tin khác có liên quan về nghĩa vụ thuế của NNT. - Tuân thủ về việc nộp thuế: NNT cần thực hiện nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật từ địa điểm nộp, hình thức nộp, thời hạn nộp và đơn vị tiền tệ. Dựa vào mức độ tuân thủ: Theo mô hình của Grabosky và Braithwaite (1986), NNT được phân thành 4 nhóm tương ứng với 4 mức độ thể hiện hành vi của NNT như sau: - Sẵn sàng tuân thủ: cơ quan thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể để NNT tuân thủ.
- Cố gắng tuân thủ nhưng không phải lúc nào cũng thành công: đối với nhóm này cơ quan thuế sẽ hỗ trợ tuân thủ. - Không muốn tuân thủ nhưng sẽ tuân thủ nếu cơ quan thuế quan tâm: cơ quan thuế tiến hành ngăn chặn thông qua các biện pháp phát hiện vi phạm để đảm bảo NNT tuân thủ. - Quyết tâm không tuân thủ: cơ quan thuế sẽ áp dụng toàn bộ quyền lực theo phát luật để ép buộc NNT tuân thủ. Các tiêu chí đánh giá tuân thủ thuế của người nộp thuế 1.
Tiêu chí định tính Những trường hợp tuân thủ thuế của NNT mà không thể định lượng được gọi là các tiêu chí định tính, bao gồm: Một là sự am hiểu và mức độ quan tâm của NNT đối với pháp luật thuế. Điều này cho thấy NNT có đầu tư trong việc tìm hiểu và nghiên cứu các quy định về thuế để có thái độ ứng xử phù hợp hay không. Đồng thời, nó phụ thuộc tương đối lớn vào trình độ dân trí, nội dung của chính sách thuế, mức độ xử phạt vi phạm và sự hỗ trợ của cơ quan thuế. Hai là NNT tuân thủ thuế một cách tự nguyện hay miễn cưỡng.
Tiêu chí này có thể đánh giá được ở mức độ nhất định bằng các bảng hỏi hoặc phỏng vấn. Kết quả tổng hợp bảng hỏi hoặc phỏng vấn sẽ cho thấy việc NNT có thái độ tuân thủ thuế tự nguyện sẽ là tín hiệu đáng mừng cho công tác quản lí thuế của cơ quan thuế. Ngược lại, nếu NNT tuân thủ thuế một cách miễn cưỡng có thể sẽ làm tăng sự xuất hiện các sai phạm về thuế.