Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống thủy vực nước ngọt Việt Nam sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao nhưng đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng do áp lực khai thác quá mức và biến đổi môi trường sống. Tính đến năm 2014, Danh lục Đỏ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã đánh giá 6.001 loài cá nước ngọt trên toàn cầu, trong đó khu vực Nam và Đông Nam Á có 1.211 loài, riêng Việt Nam có 173 loài được ghi nhận. Mặc dù vậy, Sách Đỏ Việt Nam phiên bản năm 2007 mới chỉ công bố 36 loài cá nước ngọt bị đe dọa, dựa trên các tài liệu khảo sát chủ yếu thực hiện trước năm 2000 và áp dụng tiêu chuẩn IUCN 1994 đã cũ. Sự thiếu hụt dữ liệu cập nhật và khác biệt trong tiêu chí phân hạng giữa Sách Đỏ Việt Nam, Danh lục Đỏ IUCN và các văn bản quy phạm pháp luật như Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN cùng Thông tư số 01/2011/TT-BNNPTNT (liệt kê 68 loài) đã tạo ra rào cản lớn cho công tác bảo tồn thực địa.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng cơ sở khoa học cập nhật, tiến hành đánh giá hiện trạng và phân hạng lại mức độ nguy cấp cho các loài cá nước ngọt quý hiếm tại Việt Nam theo phiên bản tiêu chuẩn IUCN 2010. Phạm vi nghiên cứu bao quát các hệ thống sông chính như sông Hồng, sông Đà, sông Lam, sông Thu Bồn và các hồ thủy vực trọng điểm từ miền Bắc đến miền Nam. Luận văn đã tiến hành rà soát chuyên sâu 41 loài cá nước ngọt quý hiếm, đưa ra đề xuất giữ nguyên thứ hạng cho 23 loài (chiếm 56,10%), nâng hạng nguy cấp cho 5 loài (chiếm 12,20%), hạ hạng nguy cấp cho 9 loài (chiếm 21,95%) và bổ sung mới 4 loài (chiếm 9,75%). Kết quả này đóng vai trò then chốt trong việc chuẩn hóa danh mục bảo tồn quốc gia, phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định chính sách khai thác bền vững và bảo vệ nguồn gen thủy sản bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết phân hạng tình trạng bảo tồn của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 2010, phiên bản 3.1) kết hợp với hệ thống tiêu chuẩn của Sách Đỏ Việt Nam (1992, 2007). Hệ thống đánh giá dựa trên 5 tiêu chí định lượng căn bản: tốc độ suy giảm kích thước quần thể trong quá khứ hoặc dự đoán tương lai, phạm vi phân bố địa lý và mức độ chia cắt sinh cảnh, số lượng cá thể trưởng thành hiện hữu, cấu trúc quần thể thu hẹp và xác suất tuyệt chủng ngoài tự nhiên qua mô hình phân tích định lượng.

Hệ thống thuật ngữ chuyên ngành trong nghiên cứu bao gồm các thứ hạng bảo tồn chuẩn hóa: Tuyệt chủng (EX), Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW), Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sắp nguy cấp (VU), Sắp bị đe dọa (NT hoặc LR/nt), Ít lo ngại (LC hoặc LR/lc) và Thiếu dẫn liệu (DD). Bên cạnh đó, các khái niệm sinh thái học như taxon, tính đa dạng sinh học thủy vực nội địa, sự phân tách quần thể và áp lực khai thác thương mại được sử dụng xuyên suốt để giải thích mối quan hệ giữa biến động sinh thái và khả năng sinh tồn của từng loài cá nước ngọt.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 45 công trình khoa học chuyên khảo, báo cáo nghiên cứu từ các viện, trường đại học, kết quả khảo sát thực địa tại các lưu vực sông trọng điểm và dữ liệu nhân nuôi bảo tồn. Nghiên cứu thực hiện kiểm kê, phân tích đối chiếu trực tiếp trên tập hợp mẫu vật lưu trữ tại các Bảo tàng sinh vật học. Các chỉ tiêu hình thái học được phân tích nghiêm ngặt theo phương pháp hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin (1973), hệ thống phân loại học của Eschmeyer kết hợp kiểm chứng hình ảnh và dữ liệu sinh học qua cơ sở dữ liệu FishBase 2004.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm tổng thể 173 loài cá nước ngọt Việt Nam có trong Danh lục Đỏ IUCN 2014, 68 loài trong danh mục của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và 37 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để chọn ra 41 loài cá nước ngọt quý hiếm, có giá trị kinh tế hoặc chịu áp lực tuyệt chủng cao nhằm tiến hành phân hạng chi tiết. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích so sánh liên hệ và đối chiếu tiêu chuẩn IUCN 2010 là nhằm đảm bảo tính khách quan, khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu định lượng trước đây và đồng bộ hóa dữ liệu bảo tồn của Việt Nam với các quy chuẩn quốc tế. Tiến trình nghiên cứu được triển khai qua 3 đợt trong năm 2014: đợt 1 (tháng 1 - tháng 4/2014) thu thập tài liệu và số liệu; đợt 2 (tháng 4 - tháng 8/2014) phân tích tài liệu, kiểm kê hình thái mẫu vật và xử lý số liệu; đợt 3 (tháng 8 - tháng 10/2014) tổng hợp dữ liệu và hoàn thiện phân hạng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích cấu trúc dữ liệu cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các tài liệu công bố tính đến năm 2014. Trong 173 loài cá nước ngọt Việt Nam được IUCN 2014 ghi nhận, nhóm loài bị đe dọa (CR, EN, VU) chiếm 20,23% (35 loài), nhóm ít nguy cấp (LC, NT) chiếm 58,96% (102 loài) và nhóm thiếu dẫn liệu (DD) chiếm 20,81% (36 loài). Ngược lại, Sách Đỏ Việt Nam 2007 ghi nhận 36 loài cá nước ngọt nhưng tỷ lệ loài ở mức Sắp nguy cấp (VU) chiếm tới 63,89% (23 loài), mức Nguy cấp (EN) chiếm 22,22% (8 loài), mức Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW) chiếm 8,33% (3 loài) và Cực kỳ nguy cấp (CR) chỉ chiếm 2,78% (1 loài). Danh mục điều chỉnh theo Quyết định 82/2008 và Thông tư 01/2011 mở rộng lên 68 loài nhưng tỷ lệ nhóm VU vẫn chiếm áp đảo với 66,18% (45 loài) và EN chiếm 22,06% (15 loài).

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               BẢNG TỔNG HỢP BIẾN ĐỘNG PHÂN HẠNG 41 LOÀI CÁ NƯỚC NGỌT              |
+----------------------+--------------------+--------------------+------------------+
| Thứ hạng đề xuất     | Số lượng loài      | Tỷ lệ (%)          | Xu hướng xử lý   |
+----------------------+--------------------+--------------------+------------------+
| Giữ nguyên thứ hạng  | 23 loài            | 56,10%             | Bảo lưu SĐVN 2007|
| Nâng bậc nguy cấp    | 5 loài             | 12,20%             | Tăng mức bảo vệ  |
| Hạ bậc nguy cấp      | 9 loài             | 21,95%             | Cập nhật thực địa|
| Bổ sung loài mới     | 4 loài             | 9,75%              | Đưa vào danh mục |
+----------------------+--------------------+--------------------+------------------+
| Tổng số loài rà soát | 41 loài            | 100,00%            | Chuẩn hóa 2014   |
+----------------------+--------------------+--------------------+------------------+

Đối với 41 loài cá nước ngọt quý hiếm trọng điểm được đánh giá chi tiết theo tiêu chuẩn IUCN 2010, nghiên cứu đã chỉ ra những chuyển dịch phân hạng cụ thể:

Thứ nhất, 5 loài được đề xuất nâng bậc nguy cấp do quần thể tự nhiên suy giảm mạnh: Cá Còm (Chitala ornata) từ mức VU lên mức EN; Cá Chày tràng (Ochelobius elongatus), Cá Anh vũ (Semilabeo obscurus), Cá Rầm xanh (Sinilabeo lemassoni) và Cá Hường (Coius microlepis) đều được đề xuất nâng từ hạng Sắp nguy cấp (VU) lên hạng Nguy cấp (EN).

Thứ hai, 9 loài được đề xuất hạ bậc nguy cấp nhờ phát hiện thêm quần thể tự nhiên hoặc thành công trong nhân giống: Cá Chình nhật (Anguilla japonica) hạ từ mức Tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) xuống mức Cực kỳ nguy cấp (CR); Cá Pạo (Sinilabeo graffeuilli) và Cá Chuối hoa (Channa maculata) hạ từ EN xuống VU; Cá Mòi cờ hoa (Clupanodon thrissa) hạ từ EN xuống VU; Cá Măng đậm (Elopichthys bambusa), Cá Lá giang (Parazacco vuquangensis), Cá Lăng chấm (Hemibagrus elongatus) và Cá Chiên (Bagarius rutilus) hạ từ VU xuống mức Sắp bị đe dọa (LR/nt).

Thứ ba, 4 loài cá quý hiếm có nguy cơ đe dọa cao ngoài tự nhiên được đề xuất bổ sung mới vào danh mục xem xét bảo vệ gồm: Cá Sỉnh gai (Onychostoma laticeps - mức VU), Cá Ngựa xám (Tor tambroides - mức VU), Cá Ngựa nam (Hampala macrolepidota - mức VU) và Cá Xộp (Channa striata - mức LR/nt).

Thảo luận kết quả

Việc điều chỉnh hạ bậc nguy cấp của một số loài phản ánh sự tiến bộ trong công tác điều tra thực địa và kỹ thuật nhân nuôi bảo tồn. Minh chứng rõ nét nhất là trường hợp Cá Chình nhật (Anguilla japonica), loài từng bị Sách Đỏ Việt Nam 2007 coi là tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW), nhưng nghiên cứu thực địa của Nguyễn Thị Hoa (2011) đã thu thập được 4 cá thể sống tại các thủy vực tự nhiên, chứng minh loài vẫn tồn tại và cần được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR). Tương tự, Cá Lá giang (Parazacco vuquangensis) từng xếp mức VU nhưng kết quả điều tra của Tạ Thị Thủy (2012) đã thu được 118 mẫu vật tại 11 điểm phân bố khác nhau với mật độ ổn định, cho phép hạ xuống mức LR/nt. Đối với Cá Chuối hoa (Channa maculata), các khảo sát tại hồ Đồng Mô - Ngải Sơn và lưu vực sông Đà giai đoạn 2012 - 2013 thu nhận được 24 mẫu ở 9 điểm, cho thấy trữ lượng loài còn khá phong phú, phù hợp để xếp ở bậc VU thay vì EN.

Toàn bộ dữ liệu phân hạng có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu tỷ lệ phần trăm các bậc nguy cấp, giúp các cơ quan quản lý nhận diện nhanh sự mất cân đối giữa danh mục quốc tế và danh mục trong nước. Nguyên nhân chính khiến các loài như Cá Anh vũ, Cá Rầm xanh và Cá Chày tràng phải nâng hạng nguy cấp là do tác động kép từ các công trình thủy điện làm chia cắt đường di cư sinh sản, kết hợp tình trạng đánh bắt tận diệt bằng xung điện và lưới cào đáy. Việc áp dụng bộ tiêu chí IUCN 2010 đã giải quyết được các bất cập về phân hạng cảm tính, tạo ra sự thống nhất khoa học giữa Sách Đỏ Việt Nam và các văn bản điều hành của ngành thủy sản.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân hạng và đánh giá hiện trạng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm bảo tồn và phục hồi nguồn lợi cá nước ngọt quý hiếm:

  1. Chuẩn hóa văn bản pháp lý và cập nhật danh mục bảo tồn: Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên & Môi trường thống nhất sử dụng khung tiêu chuẩn IUCN 2010 để tu chỉnh Sách Đỏ Việt Nam và rà soát lại Quyết định 82/2008 cùng Thông tư 01/2011. Mục tiêu hoàn thành chuẩn hóa 100% tên khoa học và thứ hạng cho 68 loài cá quý hiếm trong giai đoạn 2015 - 2016.

  2. Thiết lập và mở rộng mạng lưới khu bảo tồn thủy vực nội địa: Tổng cục Thủy sản cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh quy hoạch, vận hành hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa tại các điểm nóng đa dạng sinh học như sông Đà, sông Thao, sông Kỳ Cùng, sông Lam và hồ Đồng Mô. Mục tiêu bảo vệ nguyên vẹn tối thiểu 80% sinh cảnh sinh sản trọng điểm của 10 loài cá thuộc bậc CR và EN trước năm 2020.

  3. Đẩy mạnh nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo và thả tái tạo nguồn lợi: Các Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản tập trung hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo cho các loài nguy cấp cao như Cá Anh vũ, Cá Rầm xanh, Cá Hô, Cá Còm và Cá Chiên. Thiết lập chương trình định kỳ thả tái tạo từ 50.000 đến 100.000 con giống chất lượng cao về các lưu vực sông tự nhiên hàng năm trong giai đoạn 2016 - 2020.

  4. Tăng cường kiểm soát ngư cụ khai thác và phát triển mô hình đồng quản lý: Chính quyền địa phương và lực lượng kiểm ngư kiểm tra, xử lý triệt để 100% các hành vi sử dụng xung điện, chất độc, chất nổ và mắt lưới siêu nhỏ. Xây dựng ít nhất 20 mô hình cộng đồng ngư dân tham gia đồng quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các lưu vực sông trọng điểm trước năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang giá trị khoa học và thực tiễn cao, là tài liệu tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách thủy sản: Cán bộ tại Tổng cục Thủy sản, Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng Sinh học, Chi cục Thủy sản các tỉnh sử dụng dữ liệu luận văn làm căn cứ khoa học để điều chỉnh danh mục cấm khai thác, xây dựng quy hoạch khu bảo tồn thủy vực nội địa và hoàn thiện khung pháp lý quản lý nguồn lợi cá nước ngọt.

  • Nhà khoa học và nghiên cứu sinh học, sinh thái học: Các chuyên gia nghiên cứu về ngư loại học, sinh học bảo tồn và phân loại học động vật có xương sống sử dụng luận văn làm tài liệu đối chiếu hình thái, dữ liệu phân bố địa lý và phương pháp luận phân hạng mức độ nguy cấp theo chuẩn IUCN 2010.

  • Kỹ sư nuôi trồng thủy sản và trung tâm giống thủy sản quốc gia: Đội ngũ kỹ thuật viên tại các trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt khai thác thông tin sinh học, tập tính phân bố để tuyển chọn đối tượng lưu giữ nguồn gen, phát triển quy trình thuần hóa và cho sinh sản nhân tạo phục vụ thương mại và bảo tồn.

  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Sinh học, Môi trường: Giảng viên và người học tại các trường đại học khối khoa học tự nhiên, nông lâm nghiệp sử dụng luận văn làm học liệu nghiên cứu chuyên đề về đa dạng sinh học thủy vực, phương pháp đánh giá nguy cấp và quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao cần đánh giá lại mức độ nguy cấp của cá nước ngọt thay vì tiếp tục sử dụng Sách Đỏ Việt Nam 2007?
Sách Đỏ Việt Nam 2007 dựa trên các tài liệu khảo sát trước năm 2000 và áp dụng tiêu chuẩn IUCN 1994 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Trong giai đoạn 2000 - 2014, môi trường thủy vực biến động mạnh và nhiều loài đã được nhân giống thành công hoặc phát hiện thêm quần thể mới ngoài tự nhiên, đòi hỏi phải cập nhật theo tiêu chuẩn IUCN 2010 để phản ánh đúng thực trạng sinh tồn.

2. Dựa trên bằng chứng nào để đề xuất hạ bậc nguy cấp của Cá Chình nhật (Anguilla japonica) từ mức EW xuống mức CR?
Sách Đỏ 2007 xếp Cá Chình nhật ở mức Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW). Tuy nhiên, nghiên cứu thực địa của Nguyễn Thị Hoa (2011) đã thu thập được 4 cá thể sống của loài này tại lưu vực sông tự nhiên. Sự hiện diện thực tế này là bằng chứng xác thực khẳng định loài chưa tuyệt chủng ngoài tự nhiên, do đó được điều chỉnh về mức Cực kỳ nguy cấp (CR).

3. Tiêu chí định lượng nào của IUCN 2010 dẫn đến việc nâng hạng Cá Anh vũ và Cá Rầm xanh từ VU lên EN?
Cá Anh vũ (Semilabeo obscurus) và Cá Rầm xanh (Sinilabeo lemassoni) bị suy giảm nghiêm trọng diện tích sinh cảnh sống và chia cắt đường di cư do việc xây dựng các đập thủy điện trên hệ thống sông Hồng và sông Đà. Áp lực đánh bắt thương mại quá mức khiến kích thước quần thể suy giảm trên 50% trong vòng 10 năm, đáp ứng tiêu chí A và B của IUCN 2010 đối với bậc Nguy cấp (EN).

4. Sự khác biệt căn bản giữa Danh lục Đỏ IUCN 2014 và Sách Đỏ Việt Nam 2007 đối với cá nước ngọt là gì?
Danh lục Đỏ IUCN 2014 đánh giá quy mô toàn diện với 173 loài cá nước ngọt Việt Nam, trong đó nhóm ít nguy cấp (LC, NT) chiếm 58,96% và nhóm thiếu dữ liệu (DD) chiếm 20,81%. Trong khi đó, Sách Đỏ Việt Nam 2007 mới chỉ dừng lại ở 36 loài và tập trung chủ yếu vào các loài có nguy cơ cao, trong đó nhóm Sắp nguy cấp (VU) chiếm tới 63,89%.

5. Giải pháp nào mang tính đột phá nhất để vừa bảo tồn vừa khai thác giá trị kinh tế của các loài cá nước ngọt quý hiếm?
Giải pháp đột phá là làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm quy mô lớn, tương tự như mô hình thành công ở Cá Bỗng và Cá Lăng chấm. Việc nhân giống nhân tạo giúp giảm áp lực khai thác tự nhiên, đồng thời cung cấp hàng chục nghìn con giống hàng năm để thả tái tạo lại các quần thể hoang dã.

Kết luận

  • Luận văn đã cung cấp hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học toàn diện, cập nhật hiện trạng và phân hạng mức độ nguy cấp cho 41 loài cá nước ngọt quý hiếm tại Việt Nam theo đúng tiêu chuẩn IUCN 2010.
  • Đề xuất điều chỉnh phân hạng có cơ sở thực chứng vững chắc: giữ nguyên 23 loài, nâng mức nguy cấp cho 5 loài, hạ mức nguy cấp cho 9 loài và bổ sung mới 4 loài vào danh mục bảo vệ.
  • Giải quyết triệt để sự thiếu nhất quán giữa Sách Đỏ Việt Nam 2007, Danh lục Đỏ IUCN 2014 và các thông tư quản lý ngành nông nghiệp, tạo nền tảng đồng bộ cho quản lý sinh thái thủy vực.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng hoàn thiện quy hoạch mạng lưới bảo tồn vùng nước nội địa trước năm 2020 và triển khai nhân giống nhân tạo cho 100% các loài thuộc bậc CR và EN.
  • Kêu góp các cấp quản lý, viện nghiên cứu và cộng đồng địa phương phối hợp hành động ngay nhằm ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng, phục hồi nguồn lợi và duy trì tính bền vững của các hệ sinh thái thủy sinh nước ngọt Việt Nam.