Chương 1 : Những vấn đề lý luận chung về phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động của DN và tài chính Theo điều 4 khoản 1 Luật Doanh nghiệp 2005: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Khi tiến hành hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp nào cũng cần có một lượng vốn tối thiểu nhất định và quá trình hoạt động kinh doanh nhìn từ góc độ tài chính cũng là quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động kinh doanh.
Trong quá trình đó, làm phát sinh, tạo ra sự vận động của các dòng tiền. Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu sau: + Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước Thể hiện qua việc cấp vốn của Nhà nước cho Doanh nghiệp Nhà nước, qua nghĩa vụ tài chính (thuế, phí) với NSNN. + Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác: Thể hiện qua việc thanh quyết toán trong vay vốn, mua hàng, đầu tư vốn,… + Quan hệ nội bộ doanh nghiệp: SV: Phạm Hồng Hạnh Lớp: CQ47/1105 4 Học viện Tài chính Luận văn tốt nghiệp Thể hiện qua việc thanh toán tiền lương, thưởng phạt công nhân viên, quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận sau thuế, phân chia lợi tức cho cổ đông, … Tóm lại: TCDN xét về hình thức là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất, TCDN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh ngiệp trong qua trình hoạt động của doanh nghiệp.2 Phân tích tình hình tài chính DN 1.1 Khái niệm, mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp a.
Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ. Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của doanh nghiệp và mỗi đối tượng lại quan tâm theo mỗi giác độ khác nhau. Do đó đối với mỗi đối tượng thì phân tích tài chính doanh nghiêp cũng nhằm các mục tiêu khác nhau. Cụ thể: SV: Phạm Hồng Hạnh Lớp: CQ47/1105 5 Học viện Tài chính Luận văn tốt nghiệp - Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: + Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán… + Hướng các quyết định của ban giám đốc theo chiều hướng phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi nhuận… + Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính.
+ Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt động, quản lý trong doanh nghiệp. - Đối với các nhà đầu tư: Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư là để đánh giá doanh nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo biểu tài chính, khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh… - Đối với người cho vay: Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với người cho vay là xác định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng. - Đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp: Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm ổn định của mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tùy theo công việc được phân công, đảm nhiệm. Do đó, phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, SV: Phạm Hồng Hạnh Lớp: CQ47/1105 6 Học viện Tài chính Luận văn tốt nghiệp tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
Tài liệu và phương pháp phân tích tài chính DN * Tài liệu sử dụng: Có rất nhiều tài liệu để doanh nghiệp tiến hành phân tích tài chính, như Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, tài liệu thị trường hay những dự báo chung cho nền kinh tế. Nhưng nguồn tài liệu quan trọng trong phân tích tài chính doanh nghiệp là Báo cáo tài chính, đặc biệt là Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phân tích. Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu các nguồn vốn hình thành tài sản đó.
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính, trình độ quản lý và sử dụng vốn cũng như triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì nhất định. Thông qua các chỉ tiêu trên báo cáo kết quả kinh doanh có thể kiểm tra phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, dự toán chi phí sản xuất, giá vốn, doanh thu sản phẩm, vật tư hàng hóa tiêu thụ, tình hình chi phí thu nhập của các hoạt động khác và kết quả kinh doanh sau một kì. Ngoài ra có thể đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các kì khác nhau và kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm nghĩa vụ của công ty đối với Nhà nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác.
SV: Phạm Hồng Hạnh Lớp: CQ47/1105 7 Học viện Tài chính Luận văn tốt nghiệp Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: phản ánh lưu chuyển tiền tệ hay các luồng tiền vào, luồng tiền ra, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thường gồm các phần lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh; lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính. Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính trình bày những thông tin trọng yếu mà các báo cáo tài chính khác chưa thể hiện được. Thuyết minh báo cáo tài chính mô tả mang tính tường thuật và phân tích chi tiết các thông tin đã được trình bày trong Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cũng như các thông tin cần thiết khác theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán cụ thể như: Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, kỳ kế toán và đơn vị tiền tệ sử dụng khi trình bày báo cáo tài chính, những tuyên bố về chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán mà doanh nghiệp áp dụng khi xử lý thông tin hình thành nên báo cáo tài chính, các chính sách kế toán mà doanh nghiệp áp dụng… Thuyết minh báo cáo tài chính cũng có thể trình bày những thông tin khác cung cấp cho các đối tượng sử dụng khi doanh nghiệp xét thấy cần thiết cho việc trình bày trung thực và hợp lý các báo cáo tài chính.
Ngoài ra việc phân tích còn cần phải dựa trên nhiều tài liệu khác của công ty. *Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp Để phân tích tài chính doanh nghiệp, người ta có thể sử dụng một hay tổng hợp các phương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp. Một số phương pháp cơ bản: Phương pháp đánh giá: SV: Phạm Hồng Hạnh Lớp: CQ47/1105 8 Học viện Tài chính Luận văn tốt nghiệp Đây là phương pháp luôn được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp, đồng thời được sử dụng trong nhiều giai đoạn phân tích. Thông thường để đánh giá người ta sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp so sánh: đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng.
Điều kiện so sánh: - Phải tồn tại ít nhất 2 đại lượng (2 chỉ tiêu) - Các đại lượng (chỉ tiêu) khi so sánh với nhau phải đảm bảo tính chất so sánh được. Đó là sự thống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường. Xác định gốc để so sánh: Kì gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích của phân tích. Cụ thể: - Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kì trước hoặc hàng loạt kì trước.
Lúc nàu sẽ so sánh chỉ tiêu giữa kì này với kì trước, năm nay với năm trước. - Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến hành so sánh giữa thực tế với kế hoạch của chỉ tiêu. - Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định là giá trị trung bình của ngành hay chi tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh.
Kĩ thuật so sánh: SV: Phạm Hồng Hạnh Lớp: CQ47/1105 9 Học viện Tài chính Luận văn tốt nghiệp - So sánh bằng số tuyệt đối để thấy sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích.