MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, vấn đề nước sạch đang là vấn đề bức xúc thu hút sự quan tâm của tất cả cộng đồng trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Hầu hết các nguồn nước ngọt trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều bị ô nhiễm ở các mức nặng nhẹ khác nhau. Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm 67.5% dân số cả nước và nông nghiệp luôn là bộ phận quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân.
Tuy nhiên người dân nông thôn nói chung còn nghèo và trong quá trình cải cách kinh tế đang có xu hướng ngày càng tụt hậu so với dân thành thị cả về phát triển kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống. Nước sạch sinh hoạt là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống thời hiện đại và vấn đề cấp nước sạch cho sinh hoạt của người dân nông thôn là một trong những yếu tố tiền đề quan trọng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống vùng nông thôn, xóa dần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Từ lâu người dân nông thôn Việt Nam đã biết khai thác các nguồn nước sạch và sử dụng các hình thức cấp nước thô sơ để phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt, duy trì và phát triển cuộc sống. Tuy nhiên, do còn lạc hậu và nhận thức chưa đúng đắn về tầm quan trọng của nước sạch đối với sức khỏe và cuộc sống nên việc khai thác cũng như sử dụng các nguồn nước phục vụ đời sống còn hạn chế.
Cùng với sự tăng trưởng về mức sống và tiềm lực kinh tế người dân từng bước được cải thiện thì mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước ngày càng lan rộng và nguy hiểm. Vân Tùng là một xã miền núi của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, với diện tích đất được che phủ rộng, xã Vân Tùng có nguồn nước ngầm trữ lượng lớn, chất lượng tốt đây là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của người dân. Vì là một xã miền núi, những năm trước đây người dân vùng nông thôn sử dụng nguồn nước lấy n 2 từ các khe núi, khe suối về dùng cho sinh hoạt hằng ngày, mà nguồn nước này không qua xử lý hợp vệ sinh; gây ra không ít bệnh tật làm giảm chất lượng cuộc sống người dân. Do đó, việc cung cấp nước sạch cho người dân là điều đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao điều kiện sống, sức khỏe của người dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm gần đây xã đã có những bức tiến và thành tựu đáng kể về lĩnh vực cung cấp nước sinh hoạt nông thôn. Tuy nhiên, tỷ lệ dân cư trong xã được sử dụng nước sạch chưa cao và phân bố không đều, chủ yếu tập trung tại khu vực trung tâm xã. Đây là vấn đề cần sớm được nghiên cứu, giải quyết nhằm đưa những giải pháp kịp thời để nâng cao tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch và góp phần thực hiện chương trình mục tiêu nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn của tỉnh Bắc Kạn. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường – Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình cung cấp nước sinh hoạt nông thôn xã Vân Tùng - huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn”.
Mục đích, mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu - Nắm được tình hình cung cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn và chất lượng nước của một số điểm điều tra - Xác định những thuận lợi và khó khăn về việc cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn. - Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn trong việc cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trên toàn xã 1. Yêu cầu nghiên cứu - Đánh giá được tình hình cung cấp nước và sử dụng nước sinh hoạt của người dân, đưa ra giải pháp đẩy nhanh tiến độ cấp nước.
- Các số liệu thu thập được phản ánh trung thực và khách quan. - Kết quả đánh giá tình hình cung cấp nước sinh hoạt phải chính xác. n 3 - Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với thực trạng, tình hình của địa phương. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, rèn luyện về kỹ năng điều tra, tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác bảo vệ môi trường. - Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao được phương pháp làm việc có khoa học, có cơ sở, giúp cho sinh viên nâng cao kỹ năng tổng hợp, bố trí thời gian hợp lý trong công việc. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được tình hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt của xã, phục vụ cho công tác quản lý và bảo về nguồn nước sinh hoạt tốt hơn cho xã.
- Xác định những khó khăn, tồn tại trong quá trình cấp nước sinh hoạt để đưa ra những giải pháp thực hiện tốt chương trình cấp nước sinh hoạt nông thôn của xã. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Tầm quan trọng của nước * Vai trò của nước sạch đối với đời sống con người Nước là một vật phẩm quý giá nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho hành tinh của chúng ta và chính nó là khởi nguồn của sự sống: vạn vật không có nước không thể tồn tại, con người cũng không là ngoại lệ.
Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thủy năng), chất mang vật liệu và tác nhân điều hòa khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Theo các nghiên cứu khoa học, con người có thể nhịn ăn được khoảng 3 tuần nhưng sẽ chết khát nếu 3 ngày không có nước uống. trong cơ thể con người nước chiếm tới 70% trọng lượng, hàng ngày mỗi người cần tối thiểu 60 – 80 lít nước, tối đa tới 150 – 200 lít nước hoặc nhiều hơn cho sinh hoạt, riêng lượng nước ăn uống vào cơ thể ít nhất cũng tới 1,5 – 2 lít mỗi ngày. Nước nuôi dưỡng, làm sạch cơ thể, đối với tư duy của con người cũng phụ thuộc vào nước, không có nước thì không có năng lượng tạo ra hoạt động của hệ thần kinh.
Điều này cho thấy tầm quan trọng của nước sạch đối với sự sống và sức khỏe con người. Dưới đây là hình minh họa mức nước sử dụng trung bình của một gia đình trung lưu cùng Đông Nam Á n 5 (Nguyễn Thị Xiêm – KH7D) [11]. Mức nước sử dụng trung bình của một gia đình trung lưu ở Đông Nam Á Tiêu chuẩn dùng cho từng đầu người thường tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế của từng vùng và điều kiện cấp nước. Mức sử dụng nước trong gia đình cho các yêu cầu trên thường biến động khá lớn do mức sống, điều kiện khí hậu, lãnh thổ, tập quán… khác nhau * Vai trò của nước đối với sinh vật - Nước chứa trong cơ thể sinh vật một hàm lượng rất cao, từ 50 - 90% khối lượng cơ thể sinh vật, có trường hợp nước chiếm tỷ lệ cao hơn, tới 98% như ở một số cây mọng nước, ở ruột khoang (ví dụ: thủy tức).
- Nước là dung môi cho các chất vô cơ, các chất hữu cơ có mang gốc phân cực (ưa nước) như hydroxyl, amin, các boxyl… - Nước là nguyên liệu cho cây trong quá trình quang hợp tạo ra các chất hữu cơ. Nước là môi trường hòa tan chất vô cơ, là phương tiện vận chuyển chất vô cơ và hữu cơ trong cây, vận chuyển máu và các chất dinh dưỡng ở động vật. n 6 - Nước đảm bảo cho thực vật có một hình dạng và cấu trúc nhất định. Do nước chiếm một lượng lớn trong tế bào thực vật, duy trì độ trương của tế bào cho nên làm cho thực vật có hình dạng nhất định - Nước tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể.
- Nước còn là môi trường sống của rất nhiều loài sinh vật. - Nước giữ vai trò tích cực trong việc phát tán nòi giống của các sinh vật (Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, 2013) [12]. * Vai trò của nước sạch đối với đời sống dân cư nông thôn Ngoài những phân tích về vai trò của nước sạch đối với đời sống con người nói chung, thì với các điểm dân cư nông thôn hoạt động cung cấp nước sạch cũng giữ vị trí rất quan trọng, nó ảnh hưởng trước tiếp đến quá trình CNH – HĐH nông nghiệp – nông thôn và giải quyết các vấn đề giữa nông thôn và thành thị.
Trước hết có thể thấy cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ với chiến lược xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, nếu người dân nông thôn không được tiếp cận và sử dụng nguồn nước đảm bảo về chất lượng thì hầu như mọi nỗ lực của chúng ta cho công tác xóa đói giảm nghèo là không có ý nghĩa. Khu vực nông thôn là nơi tỷ lệ nhiễm các dịch bệnh liên quan tới việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo còn lớn. Do người dân nông thôn vẫn giữ những thói quen sử dụng nước truyền thống không đảm bảo vệ sinh.
Đối với nước ta, theo bác sĩ Nguyễn Huy Nga (vụ Y tế dự phòng – BYT): ở Việt Nam, chúng ta có gần 80% loại bệnh tật có liên quan tới nguồn nước và vệ sinh môi trường mà chủ yếu là do chất lượng nước, nhất là các bệnh về đường ruột, bệnh tả, thương hàn (Nguyễn Thị Xiêm - KH7D) [11]. n 7 Khu vực nông thôn của Việt Nam do hoạt động lao động sản suất của con người mà môi trường nơi đây cũng đã có những điểm ô nhiễm nặng nề. Đó là nguồn ô nhiễm gây tác động lớn đến lượng nước mặt của các con sông, Nơi là điểm lấy nước cho nhiều nhà máy cấp nước sạch.