PHẦN MỞ ĐẦU TÓM TẮT Phần này trình này các nội dung cụ thể sau: 1. Sự cần thiết của đề tài 2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5. Ý nghĩa của đề tài 6. Tính mới của đề tài 7. Bố cục của luận văn GVHD: TS.
Võ Lê Phú & TS. Hồ Quốc Bằng HVTH: Phạm Thị Kim Nhung 2 1. SỰ CẦN THIẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Biến đổi khí hậu (BĐKH) thực sự đã, đang diễn ra và được dự đoán là có thể biến động nhanh hơn trong tương lai, với các biểu hiện chính là sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu và gia tăng mực nước biển (Lê Anh Tuấn, 2009). Sự phát thải quá nhiều khí nhà kính (KNK) như: carbon dioxide (CO2), methane (CH4) và nitrous oxide N2O…vào bầu khí quyển gây nên hiệu ứng nhà kính, là nguyên nhân chính của BĐKH toàn cầu (Lê Anh Tuấn, 2009).
Theo dữ liệu mới nhất của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), nồng độ các KNK trong khí quyển Trái Đất đã lên đến mức kỷ lục: đạt 390,9 ppm vào năm 2011. BĐKH đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21 với các tác động tiềm tàng trên ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường (Trần Thọ Đạt và cộng sự, 2012). Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề từ những tác động của BĐKH. Khoảng 10,79% dân số, 10,21 % GDP, 10,74% diện tích đô thị, 28,67% vùng đất ngập nước bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng (NBD) lên 1m (Dasgupta và cộng sự, 2007).
Các vùng đất thấp ven biển ở miền Nam Việt Nam được xem là vùng nhạy cảm, chịu nhiều tổn thương do nơi đây có mật độ dân cư tập trung tương đối cao, sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp lệ thuộc phần lớn vào điều kiện thời tiết và nguồn nước (Lê Anh Tuấn, 2009). Những tác động của BĐKH đối với Việt Nam là nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. Trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được đánh giá là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề và nghiêm trọng nhất do BĐKH, đặc biệt là ở các vùng ven biển. ĐBSCL là vựa lúa của cả nước, cung cấp 53,4% sản lượng lúa, đóng góp 90% sản lượng gạo xuất khẩu và 58,7% sản lượng thuỷ sản, 70% sản lượng trái cây mỗi năm.
Đây là vùng có địa hình tương đối thấp, nằm ở hạ lưu sông Mê Kông và đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ khi mực NBD như: mất các vùng đất thấp, mất đất sản xuất nông nghiệp, thiếu nước ngọt, giảm đa dạng sinh học…Điều đó đã gây ra nhiều áp lực cho môi trường, cho cộng đồng và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Võ Lê Phú & TS. Hồ Quốc Bằng HVTH: Phạm Thị Kim Nhung 3 Sóc Trăng là tỉnh ven biển của ĐBSCL, nằm ở hạ lưu sông Hậu; có tọa độ địa lý là 9°14’40” đến 9°33’56” vĩ độ Bắc và 105°49’37” đến 106°19’01’’ kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên 3.311,7 km2, xấp xỉ 1% diện tích của cả nước và 8,3% diện tích của khu vực ĐBSCL (Cục Thống kê Sóc Trăng, 2009).
Sóc Trăng là 1 trong 10 tỉnh thành của ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi mực NBD lên 1m (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2012). Phần lớn diện tích đất tự nhiên trên địa bàn tỉnh đều có cao trình tương đối thấp. Nếu mực NBD 1m (ứng với mức triều cao nhất) thì hầu hết diện tích các huyện vùng trũng (gồm các huyện: Ngã Năm, Mỹ Tú, Thạnh Trị, một phần Châu Thành và huyện Cù Lao Dung) sẽ bị ngập hầu như hoàn toàn. Thêm vào đó, xâm nhập mặn ngày càng tiến sâu vào trong nội đồng gây mặn hóa các vùng ngọt, làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của người dân địa phương.
BĐKH tác động trực tiếp đến tài nguyên nước, năng lượng, sức khỏe con người, nông nghiệp, an ninh lương thực, đa dạng sinh học, cơ sở hạ tầng và nhất là các cộng đồng dân cư nghèo ven biển của tỉnh. Huyện Cù Lao Dung của tỉnh Sóc Trăng là một huyện ven biển có vị trí tương đối đặc biệt. Cộng đồng địa phương sinh sống bằng các sinh kế chính là nghề trồng mía, trồng hoa màu, trồng cây ăn quả, nuôi tôm, đánh bắt thủy hải sản. Đây là những hoạt động phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, điều kiện thời tiết và nguồn nước.
Trong khi đó, nơi đây lại được đánh giá là khu vực nhạy cảm nhất với những thay đổi của khí hậu như: hạn hán, NBD, bão và áp thấp nhiệt đới, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Chính vì thế, đề tài“Đánh giá tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng” được đề xuất thực hiện với mục tiêu đánh giá tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH dựa trên hai chỉ thị: (i) các hệ sinh thái đặc trưng tại địa phương và sinh kế của cộng đồng. Kết quả phân tích đánh giá tính dễ tổn thương là cơ sở để xây dựng các giải pháp thích ứng, các giải pháp tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng, các kế hoạch hành động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để ứng phó với BĐKH. Võ Lê Phú & TS.
Hồ Quốc Bằng HVTH: Phạm Thị Kim Nhung 4 2. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2.1Mục tiêu tổng quát Đánh giá mức độ tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH của cộng đồng huyện Cù Lao Dung và đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, các mục tiêu cụ thể mà nghiên cứu hướng tới bao gồm: (i) Phân tích, đánh giá mức độ tổn thương của các hệ sinh thái (HST) đặc trưng và các sinh kế chính của người dân địa phương do tác động của BĐKH. (ii) Phân tích và đánh giá năng lực thích ứng của cộng đồng. (iii) Xác định các giải pháp thích ứng tiềm năng tại địa phương nhằm tăng cường khả năng chống chịu với BĐKH.2 Nội dung nghiên cứu Để đạt được các mục tiêu cụ thể nêu trên, các nội dung nghiên cứu sau đây sẽ được thực hiện: (i) Thu thập, tổng hợp các dữ liệu về diễn biến thời tiết, tai biến tự nhiên; khảo sát những thiệt hại về kinh tế - xã hội do thiên tai, các đặc điểm kinh tế - xã hội, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các hoạt động của đoàn thể, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.
(ii) Phân tích và đánh giá tác động tiềm tàng của BĐKH tại huyện Cù Lao Dung đến năm 2020. (iii) Phân tích tính dễ tổn thương với BĐKH của cộng đồng trên các phương diện: độ nhạy cảm về sinh kế, về tài nguyên thiên nhiên; mức độ bị tác động bởi với các yếu tố tự nhiên (mưa, bão, nắng, nóng, triều cường, lốc xoáy…) và các yếu tố phi tự nhiên (tiếp cận khoa học kỹ thuật, vốn sản xuất, chính sách hỗ trợ từ chính quyền…) tại địa phương; đặc biệt là thiệt hại và những ảnh hưởng đến phát triển sinh kế của cộng đồng do tác động của thiên tai, thời tiết thất thường; GVHD: TS. Võ Lê Phú & TS. Hồ Quốc Bằng HVTH: Phạm Thị Kim Nhung 5 (iv) Phân tích đánh giá sinh kế của cộng đồng, tập trung vào các sinh kế phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên như: đánh bắt thủy hải sản, trồng cây hoa màu.; (v) Phân tích năng lực thích ứng với BĐKH của cộng đồng dựa trên quan điểm phát triển sinh kế bền vững và cách thức hỗ trợ hộ nghèo của chính quyền địa phương.
(vi) Đề xuất các giải pháp thích ứng cho cộng đồng trong bối cảnh BĐKH. PHỎNG VẤN CỘNG ĐỒNG THU THẬP DỮ LIỆU - Bảng hỏi (Thảo luận với các cán bộ của các - Thảo luận mở cơ quan chuyên môn) XỬ LÝ THỐNG KÊ, PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐÁNH GIÁ RỦI RO LÊN CÁC HỆ SINH THÁI ĐẶC TRƯNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC - Ma trận tổn thương THÍCH ỨNG CỦA CỘNG ĐỒNG - Xếp hạng rủi ro - Phân tích sơ đồ VENN - Xếp hạng năng lực thích ứng của HST - Phân tích SWOT ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA XÂY DỰNG BẢN ĐỒ BĐKH LÊN SINH KẾ CỘNG ĐỒNG TỔN THƯƠNG DO BĐKH - Ma trận tổn thương - Xây dựng bộ chỉ số tổn thương - Xếp hạng rủi ro các sinh kế chính - Bản đồ GIS KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BĐKH (GIẢI PHÁP PHI CÔNG TRÌNH) Hình 1: Khung định hướng nghiên cứu GVHD: TS. Võ Lê Phú & TS. Hồ Quốc Bằng HVTH: Phạm Thị Kim Nhung 6 3.
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp luận Phương pháp luận của nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở của 3 phương pháp luận sau đây: 3.1 Đánh giá tính dễ tổn thương và Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (Vulnerability and Capacity Assessment - VCA). Đây là phương pháp luận do Tổ Chức Phát Triển Bền Vững (SDF) Thái Lan đề xuất, bao gồm các công cụ và phương pháp đánh giá tổng hợp từ hướng dẫn của Tổ chức Cứu Trợ Quốc Tế (CARE) và Chương trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP). Phương pháp VCA đưa ra cách tiếp cận khách quan về các vấn đề thực tế tại cộng đồng địa phương như: tình hình thiên tai tại địa phương, sinh kế của người dân, cách thức sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Kết quả phân tích hiện trạng, kinh nghiệm thực tế của các cán bộ địa phương và những số liệu có sẵn như: thành phần dân tộc, hiện trạng sử dụng đất, trình độ học vấn…được sử dụng trong suốt quá trình đánh giá.
Phương pháp luận VCA gồm bốn thành phần chính: các khái niệm cơ bản của phương pháp, quy trình thực hiện tổng quát, các công cụ dùng để áp dụng phương pháp VCA và định dạng báo cáo thích hợp để thể hiện kết quả của phương pháp (IUCN, 2012).2 Đánh giá tác động của BĐKH và NBD lên HST và các sinh kế một cách đầy đủ và khách quan bằng phương pháp đánh giá nhanh tính tổn thương và năng lực thích ứng (Rapid Integrated & Ecosystem-Based Assessment of Climate Change Vulnerability & Adaptation - RIVAA). Đánh giá tác động được thực hiện thông qua hai bước tiếp cận chính, đó là: (i) tiếp cận từ trên – xuống (từ tỉnh đến huyện, xã) và (ii) tiếp cận từ dưới – lên (từ hộ dân lên xã, huyện).