Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hải Phòng nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa ven Biển Đông, trung bình mỗi năm hứng chịu khoảng 31% tổng số các cơn bão đổ bộ trực tiếp vào lãnh thổ Việt Nam. Số liệu quan trắc tại Trạm Khí tượng Thủy văn Hòn Dấu cho thấy mực nước biển tại khu vực đã gia tăng xấp xỉ 20 mm trong vòng 50 năm qua. Theo báo cáo xếp hạng rủi ro của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Hải Phòng đứng ở vị trí thứ 10 trên toàn cầu trong danh sách các thành phố đối mặt với nguy cơ ngập lụt ven biển nghiêm trọng nhất tính đến mốc thời gian năm 2070. Trong bức tranh chung đó, thị trấn Cát Hải thuộc huyện đảo Cát Hải giữ vị trí tiền tiêu trọng yếu nhưng có địa hình trũng thấp, là nơi tập trung phần lớn các hoạt động đánh bắt và sản xuất nước mắm truyền thống lâu đời.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài xuất phát từ việc các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai gia tăng về tần suất lẫn cường độ, đe dọa trực tiếp đến đời sống dân sinh. Điển hình như trận bão số 8 (bão Sơn Tinh) năm 2012 đã làm chìm 13 tàu thuyền, hư hại 55 lồng bè cá và gây tổn thất kinh tế lên đến 69 tỷ đồng. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm đánh giá toàn diện tính dễ bị tổn thương của lĩnh vực khai thác và chế biến thủy sản tại thị trấn Cát Hải, phân tích nhận thức cộng đồng và đo lường 5 nguồn vốn sinh kế, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp ứng phó đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu tập trung tại thị trấn Cát Hải, phân tích chuỗi số liệu khí hậu nhiều thập kỷ cùng khảo sát thực tế giai đoạn 2014 - 2017. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa định lượng sâu sắc, tạo tiền đề nâng cao năng lực chống chịu và bảo tồn hơn 30 ha rừng ngập mặn phòng hộ ven đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng nền tảng khung lý thuyết đánh giá tính dễ bị tổn thương do Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) công bố, biểu diễn dưới dạng hàm toán học V = f(E, S, AC) hoặc V = f(PI, AC). Trong mô hình này, tính dễ bị tổn thương (Vulnerability - V) được xác định bởi mối tương quan giữa tác động tiềm ẩn (Potential Impact - PI) và năng lực thích ứng (Adaptive Capacity - AC). Tác động tiềm ẩn là kết quả tổng hòa của mức độ phơi lộ (Exposure - E) và độ nhạy cảm (Sensitivity - S). Khi hệ thống có mức độ phơi lộ cao trước hiểm họa thiên tai kết hợp với độ nhạy cảm lớn và năng lực thích ứng hạn chế, mức độ tổn thương của cộng đồng sẽ đạt ngưỡng tối đa.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) do Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) ban hành năm 2001. Khung phân tích này đo lường năng lực ứng phó của hộ gia đình thông qua ngũ giác sinh kế gồm 5 nguồn vốn cơ bản: vốn con người (trình độ học vấn, kinh nghiệm nghề), vốn tự nhiên (nguồn lợi thủy sản, diện tích rừng chắn sóng), vốn vật chất (tàu thuyền, nhà xưởng chế biến), vốn tài chính (thu nhập, khả năng tiếp cận tín dụng) và vốn xã hội (mối liên kết cộng đồng, hợp tác xã). Đồng thời, nghiên cứu sử dụng khái niệm rủi ro thiên tai mở rộng theo công thức R = f(H, V), trong đó hiểm họa tự nhiên (Hazard - H) tương tác trực tiếp với tính dễ bị tổn thương nội tại của hệ thống kinh tế - xã hội ven bờ.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi với cỡ mẫu 120 hộ gia đình. Mẫu điều tra được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp mẫu thuận tiện, phân bổ đồng đều giữa nhóm hộ chuyên nghề đánh bắt thủy hải sản và nhóm hộ làm nghề chế biến nước mắm thủ công tại các tổ dân phố thuộc thị trấn Cát Hải. Ngoài ra, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 15 cán bộ phụ trách nông nghiệp, khuyến nông, hội phụ nữ và lãnh đạo địa phương nhằm thu thập thông tin quản lý đa chiều. Lý do lựa chọn cỡ mẫu và phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các cấu trúc kinh tế đặc thù vùng đảo, phản ánh chân thực nhận thức của ngư dân trước rủi ro thiên tai.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ chuỗi quan trắc khí tượng thủy văn kéo dài từ 42 năm đến 50 năm tại các trạm Phù Liễn, Hòn Dấu và Bạch Long Vỹ, kết hợp báo cáo điều tra hiểm họa của dự án HRCD do Tổ chức Tầm nhìn Thế giới triển khai năm 2014. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả, ma trận cho điểm trọng số bán định lượng và công cụ phân tích ma trận SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức). Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp chuyển hóa các đánh giá định tính từ cộng đồng thành các chỉ số định lượng cụ thể, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng lịch mùa vụ thích ứng. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ năm 2014 và nghiệm thu hoàn tất vào năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chuỗi số liệu khí hậu dài hạn cho thấy tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan đổ bộ vào Hải Phòng có xu hướng biến động phức tạp. Trong giai đoạn 1960 - 2007, số lượng cơn bão hoạt động trên Biển Đông tăng bình quân 0,45 cơn/thập kỷ. Riêng năm 2012, địa phương phải đối mặt với 8 cơn bão; trong đó cơn bão số 8 đã gây thiệt hại nặng nề, làm chìm 13 phương tiện tàu cá cùng 79 tàu thuyền vận tải, phá hủy 146 tấn thủy hải sản đang trong kỳ thu hoạch.

Đối với hoạt động khai thác thủy sản, kết quả điều tra chỉ ra rằng bão và triều cường là hai yếu tố gây tác động tiềm ẩn (PI) nặng nề nhất. Có 85% số hộ dân xác nhận các đợt bão lớn làm hư hỏng ngư cụ, rách lưới và làm giảm từ 40% đến 50% số ngày ra khơi an toàn trong các tháng cao điểm từ tháng 6 đến tháng 10 âm lịch. Đội tàu cá có công suất nhỏ dưới 20 CV chiếm tỷ lệ lớn nên khả năng chống chịu sóng gió ngoài khơi rất yếu.

Trong lĩnh vực chế biến thủy sản, nghề sản xuất nước mắm truyền thống Cát Hải chịu tổn thất gián tiếp lẫn trực tiếp từ BĐKH. Sự suy giảm sản lượng đánh bắt khiến nguồn cá nục, cá nhâm nguyên liệu bị thiếu hụt, đẩy giá thu mua đầu vào tăng từ 20% đến 30%. Hơn 78% cơ sở chế biến phản ánh hiện tượng mưa rào trái mùa và ẩm độ cao kéo dài làm tăng 15% đến 25% chi phí nhân công che chắn bể chượp, đồng thời làm chậm tiến độ đánh đảo và kéo dài thời gian ủ chín nước mắm.

Về năng lực thích ứng (AC), kết quả đánh giá 5 nguồn vốn sinh kế phản ánh sự mất cân đối rõ rệt. Nguồn vốn tự nhiên và vốn vật chất chỉ đạt mức điểm trung bình thấp, dao động từ 2,4 đến 2,6 trên thang điểm 5. Bờ biển thị trấn bị sạt lở xâm thực sâu từ 3 đến 4 m trong vòng 10 năm. Ngược lại, nguồn vốn xã hội đạt mức điểm khá ở mức 3,5 trên thang điểm 5 nhờ sự gắn kết tương trợ xóm giềng và kinh nghiệm đi biển bản địa phong phú.

Thảo luận kết quả

Mức độ tổn thương cao của thị trấn Cát Hải bắt nguồn từ sự cộng hưởng giữa hiểm họa tự nhiên vùng hải đảo và những hạn chế về hạ tầng kỹ thuật. Hệ thống đê biển hiện hữu thường xuyên bị sóng tràn khi triều cường kết hợp gió mạnh cấp 7 trở lên. So sánh với kết quả từ Đề tài cấp Nhà nước BĐKH-25 về lượng giá kinh tế do BĐKH đối với thủy sản dải ven biển miền Bắc, mức độ tổn thương của Cát Hải hoàn toàn trùng khớp với phân vùng nguy cơ cao của các tỉnh duyên hải Bắc Bộ.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ mạng nhện ngũ giác sinh kế, thể hiện sự thâm hụt nghiêm trọng ở hai trục vốn tài chính và vốn vật chất. Bên cạnh đó, bảng ma trận phân hạng tác động PI x AC cho thấy mối tương quan nghịch: nhóm ngư dân đánh bắt ven bờ có chỉ số tổn thương cao hơn 35% so với nhóm tàu đánh bắt xa bờ. Nguyên nhân do nhóm tàu nhỏ thiếu thiết bị thông tin liên lạc tầm xa và khó tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để nâng cấp công suất máy móc.

Đề xuất và khuyến nghị

Kiên cố hóa hạ tầng neo đậu và đê chắn sóng: Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Hải Phòng tiến hành nâng cấp 100% các âu tàu, bến bãi tránh trú bão trên địa bàn thị trấn Cát Hải. Mục tiêu giảm thiểu 50% nguy cơ chìm đắm và hư hỏng phương tiện khi có bão từ cấp 10 trở lên, hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thiết lập lịch mùa vụ khai thác và chuyển giao công nghệ chế biến: Trạm Khuyến nông huyện Cát Hải phối hợp Phòng Kinh tế và Hạ tầng xây dựng lịch mùa vụ đánh bắt thích ứng theo từng tháng, tích hợp hệ thống phát tin nhắn cảnh báo sớm SMS đến 100% chủ tàu thuyền và xưởng mắm. Rút ngắn thời gian truyền phát tin thiên tai xuống dưới 30 phút, đồng thời chuyển giao công nghệ mái che tự động bằng vật liệu composite thu nhiệt cho các cơ sở chế biến trong giai đoạn 2018 - 2020.

Đa dạng hóa mô hình sinh kế và hỗ trợ tài chính vi mô: Ngân hàng Chính sách Xã hội liên kết cùng Hội Nông dân và Hội Phụ nữ thị trấn triển khai gói tín dụng ưu đãi với mức giảm lãi suất từ 2% đến 3%/năm cho ít nhất 80 hộ dân. Khuyến khích chuyển đổi một phần sang các ngành nghề dịch vụ hậu cần nghề cá và du lịch trải nghiệm di sản văn hóa nước mắm Cát Hải, thực hiện xuyên suốt đến năm 2025.

Phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn phòng hộ: Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng kết hợp cùng Đoàn Thanh niên và cộng đồng dân cư địa phương triển khai trồng mới thêm 20 ha rừng ngập mặn ven bờ, nâng tổng diện tích rừng chắn sóng của thị trấn lên mức 50 ha. Duy trì tỷ lệ cây sống đạt trên 85% trong giai đoạn 2018 - 2023 nhằm giảm thiểu xói lở bờ biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố Hải Phòng có thể sử dụng số liệu định lượng trong luận văn làm luận cứ khoa học để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH 5 năm, tích hợp tiêu chí quản trị rủi ro thiên tai vào quy hoạch đê điều và phát triển thủy sản bền vững.

Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển quốc tế: Những tổ chức như Tổ chức Tầm nhìn Thế giới, Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN) và UNDP có thể khai thác phương pháp luận đánh giá sinh kế DFID để thiết kế các dự án viện trợ không hoàn lại, triển khai hiệu quả các mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA) và nâng cao năng lực cho phụ nữ miền biển.

Cộng đồng nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Khoa học Môi trường và Kinh tế Tài nguyên có thể kế thừa mô hình kết hợp IPCC - DFID làm tài liệu tham khảo giảng dạy, hoặc mở rộng quy mô khảo sát thực nghiệm sang các huyện đảo lân cận như Cát Bà, Bạch Long Vỹ và Cô Tô.

Chủ cơ sở sản xuất nước mắm và hợp tác xã khai thác thủy sản: Các chủ hộ tàu thuyền và doanh nghiệp chế biến nước mắm Cát Hải có thể vận dụng lịch mùa vụ thích ứng để chủ động kế hoạch thu mua nguyên liệu cá chượp, đầu tư cải tiến giàn phơi năng lượng mặt trời nhằm giảm thiểu 15% hao hụt nhiệt lượng trong mùa mưa bão.

Câu hỏi thường gặp

Thị trấn Cát Hải có những đặc điểm nào khiến ngành thủy sản dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu?

Cát Hải là khu vực hải đảo trũng thấp tiếp giáp cửa biển, mỗi năm chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoảng 5 đến 6 cơn bão. Hệ thống đê kè thường xuyên bị triều dâng tràn qua bề mặt, kết hợp tình trạng bờ biển bị sạt lở ăn sâu 3 đến 4 m trong vòng 10 năm qua khiến nơi neo đậu tàu thuyền và nhà xưởng chế biến luôn nằm trong vùng phơi lộ rủi ro cao.

Biến đổi khí hậu gây tác động tiêu cực gì đến nghề làm nước mắm truyền thống Cát Hải?

Biến đổi khí hậu làm suy giảm nguồn cá nục nguyên liệu tự nhiên, đẩy chi phí đầu vào tăng 20% đến 30%. Bên cạnh đó, các đợt mưa lớn bất thường và hiện tượng giảm số ngày nắng làm tăng 15% đến 25% chi phí nhân công che phủ bể chượp, làm gián đoạn quá trình lên men tự nhiên và kéo dài chu kỳ sản xuất nước mắm.

Mô hình đánh giá của IPCC và DFID được tích hợp trong luận văn như thế nào?

Nghiên cứu sử dụng công thức tính tổn thương của IPCC V = f(PI, AC) làm cấu trúc định lượng tổng quát. Trong đó, thành tố năng lực thích ứng (AC) được đo lường chi tiết thông qua Khung sinh kế bền vững của DFID với 5 nguồn vốn cơ bản, giúp chuyển hóa các nhận định xã hội học thành điểm số cụ thể phục vụ phân tích ma trận.

Nhóm dân cư nào tại thị trấn Cát Hải chịu rủi ro thiên tai nặng nề nhất?

Nhóm hộ ngư dân sử dụng tàu thuyền công suất nhỏ dưới 20 CV đánh bắt ven bờ và các hộ làm muối, nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ chịu mức độ tổn thương nặng nề nhất. Nhóm này có mức tích lũy vốn tài chính thấp, thiếu thiết bị định vị chuyên dụng và hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết từng chuyến biển.

Các giải pháp phi công trình có vai trò quan trọng như thế nào tại địa phương?

Giải pháp phi công trình như thiết lập lịch mùa vụ, đào tạo nâng cao nhận thức, phổ biến hệ thống tin nhắn cảnh báo sớm SMS và trồng thêm 20 ha rừng ngập mặn đóng vai trò then chốt. Những giải pháp này đòi hỏi kinh phí đầu tư vừa phải nhưng phát huy hiệu quả nhanh chóng, giúp cộng đồng chủ động giảm thiểu rủi ro sinh kế.

Kết luận

Luận văn đã cung cấp bức tranh định lượng rõ nét về thực trạng biến đổi khí hậu tại thị trấn Cát Hải với những đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa dữ liệu khí tượng thủy văn 50 năm, chứng minh xu thế gia tăng của bão biển và mực nước biển dâng tại khu vực Hải Phòng.
  • Vận dụng sáng tạo khung đánh giá của IPCC kết hợp ngũ giác sinh kế DFID để lượng hóa chỉ số tổn thương của ngành đánh bắt và chế biến thủy sản.
  • Chỉ ra sự mất cân đối lớn trong các nguồn lực sinh kế, đặc biệt là sự thiếu hụt vốn vật chất và vốn tự nhiên trước hiểm họa xói lở bờ biển.
  • Xây dựng thành công lịch mùa vụ thích ứng chi tiết và ma trận giải pháp ứng phó đồng bộ giữa công trình và phi công trình.
  • Đề xuất lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2018 - 2025 gắn liền với trách nhiệm của chính quyền địa phương và cộng đồng ngư dân.

Đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho công tác quản trị rủi ro thiên tai vùng duyên hải. Để bảo vệ sinh kế bền vững cho người dân đảo Cát Hải, các cơ quan ban ngành và cộng đồng cần khẩn trương phối hợp triển khai các giải pháp thích ứng ngay từ hôm nay.