Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu Chương 3: Đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên tại dải ven biển thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG DO TAI BIẾN THIÊN NHIÊN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Những khái niệm về tai biến thiên nhiên a.
Tai biến thiên nhiên Vũ Văn Phái (2006) cho rằng tai biến thiên nhiên (TBTN) là một quá trình và sự kiện tự nhiên có đe dọa tiềm ẩn đối với tính mạng và tài sản của con người. Chính quá trình và các sự kiện không phải là tai biến, nhưng trở thành như vậy vì con người sử dụng đất đai [15]. Tai biến thiên nhiên là các hiện tượng tự nhiên cực đoan hoặc hiếm hoi có nguồn gốc khác nhau (khí tượng – thủy văn, địa chất – địa mạo, v.) xảy ra trên quy mô cũng rất khác nhau từ toàn cầu, khu vực cho đến cục bộ địa phương, hoặc là khả năng có thể xảy ra một sự kiện cực đoan nào đó (động đất, lũ lụt, hạn hán, trượt đất, v.) có sức phá hoại tiềm ẩn trên một lãnh thổ nào đó. Khi một hiện tượng tự nhiên có thể là mối đe dọa đối với đời sống hoặc tài sản của con người gọi là tai biến thiên nhiên.
Tai biến thiên nhiên sẽ trở thành tai họa khi vượt qua giới hạn, tác động lên khu vực nhạy cảm làm tổn thương tới con người, gây ra sự phá hoại đáng kể đối với sự sống và tài sản của con người. Chẳng hạn, một trận lũ trung bình tràn lên bãi bồi sau mỗi chu kỳ vài năm thường không gây ra nhiều thiệt hại. Nhưng khi có một trận lũ lớn tấn công, thì nó có thể dẫn đến tai họa làm chết người, làm thiệt hại lớn cả về người và của [15]. Tai họa là một sự kiện tai biến xảy ra qua thời gian hạn chế kéo dài trong một vùng xác định.
Các tiêu chí cho tai họa tự nhiên gồm: (i) Hơn 10 người chết; (ii) Hơn 100 người bị ảnh hưởng; (iii) Tình trạng khẩn cấp được tuyên bố; (iv) Sự giúp đỡ quốc tế được yêu cầu. Nếu bất kỳ một trong bốn tiêu chí này được áp dụng thì sự kiện được xem là tai họa tự nhiên. Tai họa diễn ra ở quy mô lớn và có sức tàn phá mạnh thì gọi là thảm họa (Catastrophe). Thảm họa là một tai họa lớn đòi hỏi chi phí lớn và thời gian lâu dài có thể là vài năm để khắc phục những thiệt hại đã xảy ra.
Tai biến thiên nhiên là các sự kiện xảy ra một cách tự nhiên có động tiêu cực đến con người hoặc môi trường. Một số tai biến tự nhiên có quan hệ qua lại với nhau 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như động đất có thể gây ra sóng thần và hạn hán có thể dẫn đến nạn đói một cách trực tiếp. Một ví dụ cụ thể giữa tai biến tự nhiên và thảm họa tự nhiên là trận động đất San Francisco 1960 là một thảm họa, mặc dù các trận động đất là dạng tai biến. Do nó ảnh hưởng lớn tới con người với số lượng tử vong lớn hơn 10, bị thương trên 100 và gây thiệt hại 100,000 USD [15].
Tai biến thiên nhiên là một dạng thiên tai có thể xảy ra ở một vùng, một khu vực nhất định như: (sấm, sét,.), hay một quốc gia (hạn hán, ngập lụt…) hoặc có thể cho toàn thế giới (Warming Global, En Nino, La Nina,…) sự đe dọa hoặc xác suất xảy ra của một hiện tượng có khả năng gây thiệt hại trong một khoảng thời gian nhất định và khu vực [15]. Phân loại tai biến thiên nhiên Phân loại tai biến thiên nhiên theo nguồn gốc phát sinh ta được ba nhóm chính: (i) Nhóm tai biến có nguồn gốc từ khí quyển bao gồm: tuyết, bão tuyết, bão, tố lốc, vòi rồng, sương mù, sương giá,… (ii) Nhóm tai biến có nguồn gốc từ thủy quyển gồm có: lũ lụt, hạn hán, mưa đá, lũ quét, mưa đá,…(iii) Nhóm thứ ba là tai biến có nguồn gốc địa quyển: động đất, núi lửa, sóng thần, xói mòn, xói lở bờ biển sông, trượt lở ngầm,… 1. Một số dạng tai biến thiên nhiên thường gặp ở Việt Nam Việt Nam được xem là nước thường xuyên xảy ra các thảm họa thiên nhiên và là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan. Trong tình hình BĐKH diễn ra như hiện nay thì Việt Nam cũng là nước phải chịu ảnh hưởng nặng nề.
Các loại tai biến chính thường xuyên xảy ra tại Việt Nam: ngập lụt, bão, lũ lụt, xói mòn, xâm nhập mặn, nước biển dâng. Ngoài ra còn có các tai biến hạn hán, trượt đất, các tai biến động đất, sóng thần ít xảy ra. Trong khuôn khổ luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các loại tai biến diễn ra tại vùng ven biển Hội An, Quảng Nam (xói lở bờ biển, ngập lụt, bão, xâm nhập mặn, nước biển dâng) [16]. Xói lở bờ biển/ bờ sông: là kết quả của hoạt động địa động lực biển hoặc địa động lực biển kết hợp địa động lực dòng sông, thường xuyên xảy ra ở các bờ biển trên toàn thế giới với những mức độ, cường độ và phạm vi ảnh hưởng khác nhau [9].Trong vài năm trở lại đây, quá trình xói lở ở bờ biển nước ta diễn ra ngày càng nghiêm trọng và gây nhiều hậu quả tiêu cực đối với cuộc sống của nhân dân ven biển.
Nhiều nhà cửa, các công trình phúc lợi công cộng bị tàn phá và diện tích đất đai bị thu hẹp. Vùng biển Cửa Đại (Hội An) là một trong những vùng bờ xói lở mạnh nhất cả nước. Ngập lụt: là hiện tượng nước trong sông, hồ tràn ngập một vùng đất. Lụt cũng có thể dùng để chỉ ngập do thủy triều, nước biển dâng do bão.
Lụt có thể xuất hiện khi 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước trong sông, hồ tràn qua đê hoặc gây vỡ đê làm cho nước tràn vào các vùng đất được đê bảo vệ. Trong khi kích thước của hồ hoặc các vực nước có thể thay đổi theo mùa phụ thuộc vào giáng thủy hoặc tuyết tan, nó không có nghĩa là lũ lụt trừ khi lượng nước này tràn ra gây nguy hiểm cho các vùng đất như làng, thành phố hoặc khu định cư khác (MSN Encarta Dictionary; Glossary of Meteorology 2009). Bão: Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết cực đoan [6]. Nước biển dâng: Là sự dâng lên của mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão.
Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác (Bộ Tài nguyên và Môi trường). Xâm nhập mặn: là sự tích tụ quá nhiều muối hòa tan trong đất. Xâm nhập mặn bên cạnh sự axit hóa là một trong hai kết quả lâu dài của sự phát triển đất. Xâm nhập mặn xảy ra khi sự bốc hơi trong sáu đến chín tháng trong một năm lớn hơn lượng mưa.
Thêm vào sự phát triển tự nhiên của đất, xâm nhập mặn được tăng tốc đáng kể thông qua hành động của con người như quá trình thủy lợi. Tổng quan về tình hình nghiên cứu a. Trên Thế giới Trên thế giới, TDBTT đã được nghiên cứu ở rất nhiều quy mô khác nhau như đối với một vùng lãnh thổ/khu vực (đới ven biển, hệ thống đảo.), một hệ sinh thái, một hệ thống tự nhiên hay một cộng đồng người vv. trên nhiều lĩnh vực như kinh tế - xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai và đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực BĐKH.Với cách tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực, các nghiên cứu TDBTT trên thế giới đã và đang có những đóng góp đáng kể trong quy hoạch,ứng phó khẩn cấp đối với các tai biến, thiếu hụt lương thực, nạn đói, phát triển kinh tế, làm cơ sở cho đánh giá môi trường chiến lược và quy hoạch cơ sở hạ tầng, hình thành các chương trình ưu tiên và bảo tồn tài nguyên – môi trường biển, đô thị, hoạch định chính sách, định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như thiết lập khung cho quản lý tổng hợp đới bờ tiếp cận gần với mục tiêu phát triển bền vững.
Tính dễ bị tổn thương trong các nghiên cứu cụ thể được xem xét trong những hoàn cảnh và nguyên nhân rất đa dạng như sự BĐKH toàn cầu, sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, chiến tranh, khủng bố, những tai biến thiên nhiên, suy thoái môi trường vv. Lịch sử nghiên cứu TDBTT được ghi nhận từ hơn 20 năm qua và đặc biệt được quan tâm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX, thể hiện trong các công trình của Watts, M. 91996); Cục Quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ – NOAA (1999); Sander Evan der Leeuw và Chr. Aschan-Leygonie (2000); Adger, W.
Vào cuối thế kỷ XX, một số mô hình về tổn thương và phương pháp đánh giá TDBTT dựa trên các thông số được lượng hóa có hệ thống đã được định hình trên thế giới như phương pháp của NOAA, phương pháp của Cutter. Trong các nghiên cứu TDBTT của NOAA (1999, 2001) và Cutter (1996, 2000, 2007, 2009, 2010), các bản đồ phân vùng mức độ tổn thương đã được xây dựng trên cơ sở các bản đồ phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ các đối tượng dễ bị tổn thương. Kết quả của các công trình này đã thể hiện được tính ưu việt trong việc dự báo mức độ bị tổn thương do tai biến cũng như đề xuất các biện pháp giảm thiểu thiệt hại, là cơ sở quan trọng trong quy hoạch, hoạch định chính sách quản lý và phát triển. Đặc biệt, các nghiên cứu của NOAA (1999) đã xây dựng quy trình đánh giá TDBTT và những ứng dụng của việc đánh giá này (quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ tài nguyên và tăng khả năng giảm thiểu, tái phát triển và xây dựng sơ sở hạ tầng, phục hồi các công trình bị hư hỏng, đưa ra các chính sách đầu tư và phát triển cần được ưu tiên…).
Trong nghiên cứu của Cutter (1996) đã đánh giá TDBTT của hệ thống tự nhiên - xã hội.