Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang gây áp lực nghiêm trọng lên các dải ven biển trũng thấp, nơi tập trung phần lớn dân cư sinh sống dựa vào nông nghiệp và thủy sản. Tại Việt Nam, dải đồng bằng ven biển châu thổ sông Hồng là khu vực chịu rủi ro phơi nhiễm cao trước triều cường, xâm nhập mặn và các hình thái thời tiết cực đoan. Huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình là vùng đất bồi tụ ven biển với tốc độ lấn biển hàng năm từ 80 đến 100 mét, song địa hình trũng thấp chỉ cao trung bình từ 1 đến 2 mét so với mực nước biển khiến hệ thống sinh kế nơi đây đặc biệt nhạy cảm với các biến động khí hậu.

Xã Cồn Thoi có tổng diện tích tự nhiên 742,52 ha, nằm cách bờ biển khoảng 7 km về phía bắc và thuộc vùng chuyển tiếp của Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng. Đời sống của hơn 10 xóm dân cư tại địa bàn phụ thuộc chặt chẽ vào hoạt động trồng lúa, trồng màu và nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích các biểu hiện khí hậu cực đoan qua chuỗi số liệu quan trắc 52 năm (1964 - 2016), đồng thời lượng hóa mức độ tổn thương sinh kế của cộng đồng địa phương thông qua hai công cụ: Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) và Chỉ số tổn thương theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (LVI-IPCC).

Phạm vi nghiên cứu tập trung thu thập dữ liệu vi mô tại xã Cồn Thoi trong giai đoạn từ tháng 6/2016 đến tháng 10/2017. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác, đo lường 8 nhóm nhân tố sinh kế then chốt, hỗ trợ đắc lực cho chính quyền cơ sở trong việc xây dựng các kế hoạch hành động thích ứng khí hậu và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp hai nền tảng lý thuyết chủ đạo trong phân tích rủi ro môi trường và sinh kế nông thôn: Khung sinh kế bền vững (SLA) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) ban hành và Khung đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Khung sinh kế DFID đặt con người làm trung tâm, xem xét sự tương tác giữa 5 nguồn vốn sinh kế: vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn con người và vốn xã hội trước các cú sốc môi trường.

Lý thuyết của IPCC phân tích tính dễ bị tổn thương như một hàm số cấu thành từ 3 tác nhân đóng góp: Sự phô bày (mức độ tiếp xúc với hiểm họa khí hậu), Tính nhạy cảm (mức độ bị tác động tiêu cực của các nguồn vốn sinh kế) và Khả năng thích ứng (năng lực điều chỉnh và phục hồi của hệ thống kinh tế - xã hội). Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm Biến đổi khí hậu theo Công ước Khung của Liên Hợp Quốc (UNFCCC 1992), Thời tiết cực đoan và Tính dễ bị tổn thương về sinh kế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm chuỗi số liệu khí tượng quan trắc liên tục trong 52 năm (1964 - 2016) tại trạm Khí tượng Thủy văn Văn Lý kết hợp các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Kim Sơn và Ủy ban nhân dân xã Cồn Thoi. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi cấu trúc kết hợp khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu lãnh đạo địa phương.

Quy mô chọn mẫu gồm 100 hộ gia đình tại 2 xóm đại diện được lựa chọn bằng phương pháp bốc thăm có điều chỉnh: xóm 8B (khu vực gần biển) và xóm 7C (khu vực xa biển hơn). Mỗi xóm thực hiện khảo sát 50 hộ, chia đều thành 25 hộ khá giả và 25 hộ nghèo, với tiêu chí chủ hộ có độ tuổi trên 45 tuổi nhằm đảm bảo tính am hiểu và kinh nghiệm quan sát diễn biến khí hậu qua nhiều thập kỷ.

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng, áp dụng phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và kiểm định ANOVA để đánh giá xu thế biến đổi nhiệt độ, lượng mưa. Phương pháp tính toán LVI và LVI-IPCC của tác giả Hahn và cộng sự được lựa chọn nhờ khả năng chuẩn hóa đa chỉ số về thang đo phi thứ nguyên từ 0 đến 1, giúp lượng hóa khách quan 8 lĩnh vực: nhân khẩu, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, sức khỏe, vốn tài chính, nhà cửa - đất sản xuất, nguồn nước, thảm họa thiên nhiên và BĐKH. Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu hoàn tất trong timeline từ ngày 1/6/2016 đến ngày 1/10/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chuỗi số liệu khí tượng hơn 50 năm cho thấy nền nhiệt địa bàn có xu thế ấm lên rõ nét. Nhiệt độ tối thấp trung bình năm tăng 0,16°C mỗi thập kỷ (với ý nghĩa thống kê P < 0,05), nhiệt độ tối cao tăng 0,11°C mỗi thập kỷ (P > 0,1). Nền nhiệt vụ xuân tăng mạnh hơn vụ mùa, với mức tăng từ 0,19°C (nhiệt độ tối cao) đến 0,20°C mỗi thập kỷ (nhiệt độ tối thấp). Ngược lại, lượng mưa cực đoan có xu hướng suy giảm mạnh sau năm 1980. Trước năm 1980, số ngày có lượng mưa từ 100 mm trở lên trong vụ mùa dao động từ 20 đến 35 ngày; sau năm 1980, con số này chỉ đạt tối đa khoảng 7 ngày (ghi nhận vào các năm 1985 và 2015), thậm chí nhiều năm hoàn toàn không xuất hiện ngày mưa lớn trên 100 mm như năm 1995, 1997, 1999 và 2004.

Đánh giá chỉ số tổn thương sinh kế cho thấy xóm 8B (gần biển) có giá trị LVI bằng 0,464, cao hơn 15,4% so với xóm 7C (LVI đạt 0,402). Cả hai địa bàn đều nằm trong ngưỡng tổn thương cao (quy ước từ 0,4 đến 0,7). Khi quy đổi sang chỉ số LVI-IPCC, xóm 8B có mức độ phô bày hiểm họa cao hơn xóm 7C là 0,046 điểm, trong khi năng lực thích ứng của xóm 8B (0,598) lại thấp hơn xóm 7C (0,639). Kết quả tổng hợp chỉ số LVI-IPCC của xóm 8B đạt mức 0,489, cao hơn đáng kể so với mức 0,401 của xóm 7C.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về mức độ tổn thương sinh kế bắt nguồn trực tiếp từ khoảng cách địa lý và khả năng tiếp cận nguồn lực. Các phát hiện có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ mạng nhện đa giác 8 trục thể hiện 8 yếu tố chính của LVI và biểu đồ thanh ngang so sánh 3 hợp phần IPCC. Qua biểu đồ trực quan, xóm 8B thể hiện diện tích đa giác mở rộng hơn ở các trục thảm họa thiên nhiên, đất sản xuất và vốn tài chính do vị trí tiếp giáp đê biển chịu tác động trực diện từ triều cường, gió bão và hiện tượng xâm nhập mặn. Ngược lại, xóm 7C nằm sâu trong nội đồng có mạng lưới xã hội gắn kết hơn và hạ tầng nhà ở kiên cố hơn.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu sinh kế ven biển tại các vùng duyên hải Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, nơi "khoảng cách vật lý tới biển tỷ lệ thuận với rủi ro mất an toàn sinh kế". Về mặt thực tiễn, cộng đồng dân cư Cồn Thoi đã chủ động áp dụng các giải pháp tại chỗ như chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, đưa các giống lúa lai ngắn ngày chịu mặn vào gieo cấy, sử dụng màng phủ nilon và tôn cao luống đất để phòng chống úng ngập và rét hại.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giảm thiểu tổn thương sinh kế và nâng cao năng lực chống chịu cho cộng đồng ven biển Cồn Thoi, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được kiến nghị thực hiện:

Thứ nhất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ thích ứng. Ủy ban nhân dân xã Cồn Thoi phối hợp cùng Phòng Nông nghiệp huyện Kim Sơn rà soát, chuyển đổi linh hoạt 100% diện tích đất trũng nhiễm mặn sang mô hình xen canh lúa - rươi hoặc nuôi thủy sản nước lợ. Mục tiêu nâng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích thêm 20% đến 25% trong lộ trình 2018 - 2022.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng thủy lợi và đê điều phòng hộ. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Bình chủ trì triển khai kiên cố hóa hệ thống đê bao ven sông Đáy, nạo vét 100% các trục kênh dẫn tiêu thoát lũ liên xóm trước mùa mưa bão năm 2020, hạn chế tình trạng ngập úng cục bộ và ngăn chặn triều cường xâm nhập sâu.

Thứ ba, thiết lập quỹ tín dụng vi mô hỗ trợ sinh kế bền vững. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Kim Sơn liên kết với Hội Phụ nữ và Hội Nông dân xã mở rộng các gói vay vốn ưu đãi lãi suất thấp cho tối thiểu 80% hộ nghèo và cận nghèo tại xóm 8B và xóm 7C giai đoạn 2018 - 2025, tạo nguồn vốn dự phòng phục hồi sản xuất sau thiên tai.

Thứ tư, đào tạo kỹ thuật và tăng cường cảnh báo sớm. Trung tâm Khuyến nông tổ chức định kỳ 4 đợt tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ thuật canh tác che phủ luống vượt lũ, phòng trừ sâu bệnh sinh học và diễn tập sơ tán thiên tai, đảm bảo trên 90% hộ nông dân tham gia đầy đủ trước năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Cán bộ quản lý môi trường và cơ quan hoạch định chính sách cấp huyện, xã: Nghiên cứu cung cấp khung phương pháp lượng hóa LVI chi tiết, đóng vai trò tài liệu tham chiếu trực tiếp để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp địa phương theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học khối ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên, Biến đổi Khí hậu: Công trình là tài liệu học thuật mẫu mực trong việc áp dụng mô hình toán định lượng LVI của Hahn và khung phân tích LVI-IPCC kết hợp xử lý chuỗi khí tượng dài hạn qua kiểm định ANOVA.

Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và đơn vị phát triển cộng đồng: Dữ liệu vi mô từ 100 hộ dân là cơ sở thực chứng giá trị giúp thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, tín dụng vi mô và nâng cao năng lực chống chịu thiên tai tại dải ven biển châu thổ sông Hồng.

Sinh viên chuyên ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Luận văn cung cấp bài học thực tế sinh động về các mô hình canh tác thích ứng, kỹ thuật làm luống, che phủ và chuyển dịch mùa vụ tại các vùng bãi bồi ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) của xóm 8B (0,464) lại cao hơn xóm 7C (0,402)? Xóm 8B nằm sát vùng đê biển, chịu tác động trực diện từ bão gió, triều cường và xâm nhập mặn. Tỷ lệ phụ thuộc nhân khẩu và tỷ lệ hộ nghèo tại xóm 8B cao hơn, trong khi diện tích đất sản xuất nông nghiệp thường xuyên bị ngập úng cục bộ, khiến nguồn vốn sinh kế dễ bị suy giảm nghiêm trọng so với xóm 7C ở sâu trong nội đồng.

Xu thế nhiệt độ tại xã Cồn Thoi trong hơn 50 năm qua biến đổi như thế nào? Theo số liệu trạm Văn Lý giai đoạn 1964 - 2016, nhiệt độ tối thấp trung bình tăng 0,16°C mỗi thập kỷ và nhiệt độ tối cao tăng 0,11°C mỗi thập kỷ. Đặc biệt, nền nhiệt vụ xuân ghi nhận xu thế ấm lên rõ rệt nhất với mức tăng dao động từ 0,19°C đến 0,20°C mỗi thập kỷ.

Khung đánh giá LVI-IPCC bao gồm những tác nhân đóng góp nào? Chỉ số LVI-IPCC tích hợp 8 lĩnh vực thành 3 tác nhân: Sự phô bày (gồm thảm họa thiên nhiên và BĐKH), Năng lực thích ứng (hồ sơ nhân khẩu, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội) và Tính dễ tổn thương/nhạy cảm (sức khỏe, vốn tài chính, nhà cửa - đất đai, nguồn nước). Giá trị chỉ số dao động từ -1 đến 1.

Người dân xã Cồn Thoi đã thực hiện những giải pháp kỹ thuật nào để ứng phó với rét đậm và úng ngập? Trong canh tác thực tế, người dân đã chủ động làm luống cao, sử dụng màng phủ nilon để giữ ấm chân mạ và chống úng, thay thế giống lúa cũ bằng các giống lai ngắn ngày chịu rét, đồng thời chuyển đổi thời vụ gieo cấy nhằm tránh các đợt rét nàng Bân và bão muộn.

Giá trị đóng góp lớn nhất của nghiên cứu này đối với thực tiễn địa phương là gì? Luận văn đã lượng hóa chính xác mức độ tổn thương sinh kế cấp cơ sở, chỉ ra sự khác biệt về rủi ro giữa các xóm ven biển và nội đồng, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp thích ứng 4 trụ cột có tính khả thi cao phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch phát triển bền vững của huyện Kim Sơn.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh sự biến đổi rõ nét của các yếu tố khí hậu tại Kim Sơn qua 52 năm với xu thế tăng nhiệt độ tối thấp 0,16°C/thập kỷ và sự suy giảm mạnh các đợt mưa lớn trên 100 mm sau năm 1980.
  • Lượng hóa thành công mức độ tổn thương sinh kế bằng chỉ số LVI, xác định xóm 8B (0,464) và xóm 7C (0,402) đều thuộc ngưỡng tổn thương cao.
  • Đánh giá toàn diện các tác nhân LVI-IPCC, khẳng định tính phơi nhiễm cao hơn và năng lực thích ứng thấp hơn của khu vực cận biển (chỉ số LVI-IPCC xóm 8B đạt 0,489 so với 0,401 của xóm 7C).
  • Tổng kết các giải pháp thích ứng tại chỗ của người dân và đề xuất 4 nhóm khuyến nghị đồng bộ về chuyển đổi mùa vụ, kiên cố hạ tầng đê kè, hỗ trợ tín dụng và tập huấn cộng đồng.
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác, làm mô hình điểm để nhân rộng đánh giá tổn thương sinh kế cho các xã ven biển thuộc vùng đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn 2020 - 2025.

Quý độc giả, cán bộ quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu luận văn để ứng dụng chi tiết bộ chỉ thị LVI vào các chương trình ứng phó biến đổi khí hậu tại địa phương.