Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong năm quốc gia chịu tác động tiêu cực nặng nề nhất của biến đổi khí hậu trên toàn cầu. Các hiện tượng khí hậu cực đoan đang đe dọa trực tiếp đến đời sống của 66,4% dân số sống tại khu vực nông thôn, nơi sinh kế gắn liền mật thiết với tài nguyên tự nhiên và sản xuất nông lâm nghiệp. Tại thành phố Hà Nội, huyện Ba Vì sở hữu diện tích tự nhiên 430 km2 với địa hình bán sơn địa đặc thù, trong đó khu vực 07 xã miền núi bao gồm Minh Quang, Khánh Thượng, Ba Vì, Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh và Ba Trại là nơi sinh sống của 67.973 nhân khẩu thuộc 15.583 hộ gia đình, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường và Dao.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán suy giảm an ninh sinh kế do sự gia tăng của thiên tai và hiện tượng thời tiết bất thường. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm hai nội dung lớn: đo lường, lượng hóa tính dễ bị tổn thương sinh kế của cộng đồng 07 xã miền núi Ba Vì thông qua hệ thống chỉ số khoa học; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực thích ứng và thúc đẩy sinh kế bền vững.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập toàn diện về không gian và thời gian: phân tích chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn 41 năm (1970 - 2011) tại trạm Ba Vì và đánh giá sự biến động sinh kế kinh tế xã hội giai đoạn 2006 - 2011 tại 07 xã miền núi. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc chuẩn hóa bộ chỉ số mức độ tổn thương sinh kế trên thang đo từ 0 đến 1, tạo cơ sở thực chứng giúp các cơ quan quản lý địa phương tối ưu hóa nguồn lực đầu tư thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao hiệu quả chương trình giảm nghèo cho 33.028 lao động nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết đánh giá tính dễ bị tổn thương của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), xác định tính tổn thương là hàm số tổng hợp của ba thành tố cốt lõi: Mức độ phơi nhiễm (Exposure - E), Mức độ nhạy cảm (Sensitivity - S) và Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity - AC), biểu diễn qua công thức toán học VI = f(E, S, AC).

Song song đó, nghiên cứu kết hợp Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework) của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và quan điểm của Chambers & Conway, phân tích sâu sắc năm nguồn vốn sinh kế thiết yếu: nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn tài chính, nguồn vốn con người và nguồn vốn xã hội. Nghiên cứu cũng kế thừa phương pháp phân tích năng lực và khả năng bị tổn thương (CVCA) từ tổ chức CARE International nhằm lồng ghép tri thức bản địa vào mô hình đánh giá.

Bốn khái niệm khoa học chủ đạo được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm: Biến đổi khí hậu (sự biến đổi trạng thái khí hậu kéo dài qua nhiều thập kỷ); Hiện tượng khí hậu cực đoan (các biểu hiện thời tiết bất thường có tần suất xuất hiện dưới 10%); Tính dễ bị tổn thương (mức độ một hệ thống tự nhiên - xã hội dễ chịu tổn hại hoặc thiếu năng lực chống chịu trước hiểm họa); và Năng lực thích ứng (khả năng tự điều chỉnh của cộng đồng nhằm giảm thiểu rủi ro và tận dụng các cơ hội phát triển mới).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa dạng và đáng tin cậy: chuỗi số liệu khí tượng quan trắc 41 năm (1970 - 2011) tại trạm khí tượng Ba Vì; số liệu thống kê kinh tế - xã hội từ Niên giám thống kê huyện Ba Vì và Tổng điều tra Nông nghiệp, Nông thôn các năm 2006 và 2011; cùng hệ thống báo cáo thường niên của Ủy ban nhân dân 07 xã miền núi.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: nghiên cứu tiến hành khảo sát định lượng trên cỡ mẫu 200 hộ gia đình nông nghiệp và 139 hộ chăn nuôi tại xã Tản Lĩnh theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện, kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc với đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, ban chỉ huy phòng chống lụt bão huyện và các già làng, trưởng thôn.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê toán học khí hậu nhằm phát hiện xu thế cực trị nhiệt độ, lượng mưa; phương pháp chuẩn hóa chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) về dải giá trị từ 0 đến 1; và phương pháp phân tích không gian bản đồ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính định lượng khách quan, giải quyết được sự phức tạp của dữ liệu đa ngành giữa khí tượng học và xã hội học, cho phép so sánh tương quan mức độ tổn thương giữa các xã miền núi qua hai mốc thời gian 2006 và 2011.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích chuỗi số liệu khí tượng 41 năm (1970 - 2011) cho thấy nhiệt độ trung bình năm tại Ba Vì tăng 0,7 độ C. Hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng mạnh với số ngày nắng nóng trên 35 độ C tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, đỉnh điểm đạt khoảng 6 ngày trong tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ thực tế năm 2010 chạm ngưỡng 39,5 độ C. Rét đậm rét hại (nhiệt độ trung bình ngày dưới 15 độ C) xuất hiện dày đặc trong tháng 1 và tháng 2 với cực đại trung bình 14 ngày mỗi tháng; đặc biệt đợt rét hại lịch sử năm 2008 kéo dài kỷ lục 38 ngày đã làm đảo lộn hoàn toàn khung lịch thời vụ.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế tại 07 xã miền núi còn phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp nhạy cảm. Năm 2011, tỷ lệ hộ thuần nông tại xã Ba Vì chiếm tới 86,55%, xã Minh Quang chiếm 87,38%, xã Vân Hòa chiếm 83,35% và Yên Bài chiếm 82,71%. Dù nhóm ngành thương mại, dịch vụ tại xã Tản Lĩnh tăng lên 28,67% và Khánh Thượng đạt 23,48%, phần lớn các hoạt động này chỉ mang tính thời vụ phục vụ du lịch mùa hè, chưa tạo ra nguồn thu nhập ổn định quanh năm.

Thứ ba, khảo sát 200 hộ tại Tản Lĩnh khẳng định tác động tiêu cực trực tiếp của khí hậu cực đoan lên sản xuất: 84,0% hộ nhận thấy rét đậm rét hại gia tăng, gây sụt giảm năng suất cây trồng ở 63,5% hộ và làm chậm quá trình sinh trưởng ở 54,0% hộ. Đồng thời, 85,4% hộ ghi nhận nắng nóng kéo dài nhiều hơn, kéo theo 47,5% hộ giảm năng suất và 24,5% hộ bùng phát dịch bệnh trên vật nuôi. Hiện tượng khô hạn cũng khiến 49,5% hộ thiếu nước tưới nghiêm trọng.

Thứ tư, phản ứng ứng phó của người dân còn mang tính thụ động và tốn kém tài nguyên: có tới 88,6% hộ trồng trọt và 82,7% hộ chăn nuôi phải gia tăng chi phí tài chính; 86,9% hộ trồng trọt và 77,7% hộ chăn nuôi phải bỏ thêm công lao động để bù đắp thiệt hại. Trong khi đó, tỷ lệ hộ chủ động thay đổi phương thức canh tác chỉ đạt 5,1% trong trồng trọt và 7,2% trong chăn nuôi; tỷ lệ chuyển đổi sang nghề nghiệp khác chỉ chiếm 1,7%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến khu vực miền núi Ba Vì có độ tổn thương cao bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên địa hình đồi dốc trên 25 độ, thủy văn chia cắt và kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Toàn huyện có 01 hồ lớn (Hồ Suối Hai) và 24 hồ đập nhỏ, dù giai đoạn 2007 - 2011 đã nâng cấp 15 hồ đập nhưng nhiều công trình kênh mương nội đồng chưa được kiên cố hóa, dẫn đến thất thoát lượng nước lớn trên đường dẫn. Rừng tự nhiên bị suy giảm và việc chuyển sang trồng cây ngắn ngày làm suy giảm nghiêm trọng chức năng giữ nước đầu nguồn.

So sánh với các nghiên cứu của Adger tại Nam Định hay các khảo sát của tổ chức Oxfam và CARE International tại vùng núi phía Bắc, kết quả nghiên cứu tại Ba Vì khẳng định quy luật chung: cộng đồng dân tộc thiểu số nghèo có sinh kế phụ thuộc vào tự nhiên luôn chịu tổn thương kép từ cú sốc khí hậu và áp lực kinh tế.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu học thuật, các kết quả tính toán trong luận văn được mô hình hóa rõ nét qua hệ thống biểu đồ xu thế khí hậu giai đoạn 1970 - 2011, biểu đồ radar đa giác thể hiện tương quan các chỉ số phơi nhiễm, nhạy cảm và năng lực thích ứng tại từng xã, kết hợp cùng bản đồ phân vùng không gian mức độ tổn thương LVI năm 2006 và 2011. Các bản đồ này minh chứng rõ nét xã Ba Vì và xã Minh Quang duy trì chỉ số tổn thương ở mức cao nhất do tỷ lệ hộ nông nghiệp chiếm trên 86% và hạ tầng giao thông cách trở.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiên cố hóa và nâng cấp hạ tầng thủy lợi, đê điều: Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì phối hợp Xí nghiệp Thủy lợi Ba Vì triển khai dự án nạo vét 24 hồ đập nhỏ, hoàn thành bê tông hóa 80% hệ thống kênh mương nội đồng và giải tỏa ách tắc dòng chảy sông Tích trong giai đoạn 2016 - 2020. Mục tiêu cụ thể là giảm 40% tỷ lệ thất thoát nước tưới, đảm bảo cung cấp nước chủ động cho 6.126,06 ha đất nông nghiệp trong các đợt hạn hán vụ chiêm xuân.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và giống vật nuôi chịu hạn, kháng rét: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Ba Vì chủ trì đưa vào thử nghiệm các bộ giống lúa ngắn ngày chất lượng cao, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật mở rộng diện tích trồng cỏ phục vụ chăn nuôi bò sữa tại các xã Tản Lĩnh, Vân Hòa, Yên Bài từ 1.600 ha lên 2.500 ha vào năm 2022. Giải pháp này giúp cắt giảm 50% rủi ro mất mùa do rét đậm kéo dài và nâng cao năng suất đàn bò sữa vượt mốc 1.322 con hiện tại ở Tản Lĩnh.

Thứ ba, đa dạng hóa sinh kế và phát triển chuỗi giá trị nông lâm kết hợp du lịch: Ủy ban nhân dân 07 xã miền núi liên kết với Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì và các doanh nghiệp lữ hành tổ chức đào tạo nghề phi nông nghiệp, phấn đấu chuyển đổi sinh kế cho 30% lao động thuần nông sang làm dịch vụ sinh thái, chế biến chè búp Ba Trại và sữa tươi tiêu chuẩn cao vào năm 2025, từng bước nâng mức thu nhập bình quân từ 20.000 đồng mỗi người mỗi ngày lên mức cao hơn.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế tài chính vi mô và mạng lưới cảnh báo sớm: Ngân hàng Chính sách Xã hội cùng các nhà máy chế biến sữa trên địa bàn mở rộng gói tín dụng lãi suất 0% cho 100% hộ chăn nuôi gặp rủi ro thiên tai; Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai huyện thiết lập hệ thống tin nhắn cảnh báo sớm thời tiết cực đoan đến 74 thôn bản trước năm 2018, giúp 15.583 hộ dân chủ động che chắn chuồng trại và tiêm phòng dịch bệnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên môi trường cấp thành phố và cấp huyện: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về chỉ số LVI để xây dựng quy hoạch kinh tế - xã hội, phê duyệt kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu và phân bổ ngân sách đầu tư công trung hạn cho 07 xã miền núi.

Nhóm thứ hai là các tổ chức phi chính phủ quốc tế, tổ chức phát triển cộng đồng như CARE, Oxfam, Danida, UNDP: Sử dụng các bằng chứng thực địa và số liệu điều tra 200 hộ dân làm căn cứ thiết kế dự án viện trợ sinh kế thích ứng, tăng cường năng lực quản trị rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng dân tộc Mường và Dao.

Nhóm thứ ba là các chuyên gia nghiên cứu, giảng viên đại học và học viên cao học thuộc các ngành Biến đổi khí hậu, Địa lý môi trường, Quản lý tài nguyên, Phát triển nông thôn: Tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa khung IPCC và DFID, quy trình chuẩn hóa biến số thống kê và kỹ thuật xây dựng bản đồ tổn thương LVI cấp xã.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã sản xuất chăn nuôi bò sữa và hiệp hội du lịch địa phương: Vận dụng số liệu dự báo mùa vụ, rủi ro nắng nóng và rét đậm để tối ưu hóa quy trình chăn nuôi, bảo vệ đàn gia súc 11.478 con, bảo vệ vùng nguyên liệu chè 1.600 ha và xây dựng các tour du lịch trải nghiệm an toàn trong mùa mưa lũ.

Câu hỏi thường gặp

Biểu hiện rõ nét nhất của biến đổi khí hậu tại 07 xã miền núi huyện Ba Vì là gì? Chuỗi số liệu quan trắc 41 năm (1970 - 2011) tại trạm Ba Vì ghi nhận nhiệt độ trung bình năm tăng 0,7 độ C. Tần suất các đợt nắng nóng gay gắt trên 35 độ C gia tăng mạnh vào tháng 6 và tháng 7 với mức nhiệt kỷ lục 39,5 độ C vào năm 2010. Ngược lại, mùa đông ghi nhận các đợt rét đậm rét hại kéo dài bất thường, tiêu biểu là đợt rét hại năm 2008 kéo dài tới 38 ngày.

Tại sao cộng đồng dân cư 07 xã miền núi Ba Vì lại có mức độ tổn thương sinh kế cao? Khu vực này có 85% dân số sống phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp và lâm nghiệp, trong đó 15.583 hộ chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường và Dao. Địa hình đồi dốc trên 25 độ gây khó khăn cho tích trữ nguồn nước, hệ thống kênh mương tưới tiêu chưa đồng bộ, trong khi nguồn vốn tích lũy và năng lực chuyển đổi nghề nghiệp của người dân còn rất hạn chế.

Thời tiết cực đoan ảnh hưởng như thế nào đến ngành chăn nuôi bò sữa tại địa phương? Nhiệt độ mùa hè vượt quá 37 đến 39 độ C làm suy giảm nghiêm trọng sản lượng và chất lượng sữa tươi thu gom. Mùa đông với các đợt rét hại kéo dài khiến nguồn cỏ tự nhiên chậm phát triển, phát sinh các ổ dịch bệnh nguy hiểm như lở mồm long móng, làm tăng 82,7% chi phí thuốc men, thức ăn tinh và cải tạo chuồng trại của các hộ chăn nuôi.

Người dân miền núi Ba Vì đang áp dụng phương thức ứng phó chủ yếu nào trước thiên tai? Kết quả khảo sát thực tế cho thấy 88,6% hộ chọn giải pháp bỏ thêm chi phí đầu tư và 86,9% hộ gia tăng công lao động để khắc phục hậu quả thời tiết. Tỷ lệ chủ động thay đổi phương thức canh tác chỉ đạt 5,1% và tỷ lệ chuyển đổi sang nghề nghiệp khác chỉ đạt 1,7%, cho thấy các giải pháp ứng phó của người dân phần lớn vẫn mang tính bị động trước các cú sốc khí hậu.

Giá trị ứng dụng thực tiễn lớn nhất của chỉ số tổn thương sinh kế trong luận văn là gì? Chỉ số LVI lượng hóa mức độ rủi ro của từng xã trên thang điểm từ 0 đến 1, tích hợp đầy đủ dữ liệu khí tượng và 5 nguồn vốn sinh kế. Điều này giúp chính quyền địa phương xác định chính xác các xã có mức độ nhạy cảm cao nhất như Ba Vì hay Minh Quang để ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ, tránh tình trạng đầu tư dàn trải.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa thành công tác động của biến đổi khí hậu tại 07 xã miền núi Ba Vì qua chuỗi số liệu 41 năm với mức tăng nhiệt độ 0,7 độ C và sự gia tăng của các đợt rét hại kỷ lục kéo dài 38 ngày.
  • Nghiên cứu chứng minh 85% dân số khu vực miền núi phụ thuộc vào nông lâm nghiệp đang chịu tổn thương sâu sắc, với 63,5% hộ bị giảm năng suất cây trồng do rét hại và 47,5% hộ giảm sản lượng do nắng nóng.
  • Đề tài chuẩn hóa bộ chỉ số mức độ tổn thương sinh kế LVI trên thang đo từ 0 đến 1, chỉ rõ xã Ba Vì và xã Minh Quang là những địa bàn có mức độ nhạy cảm cao nhất cần ưu tiên nguồn lực can thiệp.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất bao quát toàn diện từ kiên cố hóa 80% kênh mương nội đồng, mở rộng 2.500 ha vùng cỏ nguyên liệu đến phát triển chuỗi giá trị du lịch sinh thái nông nghiệp bền vững.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là thiết lập khung đánh giá tổn thương đa chiều kết hợp giữa IPCC và DFID, đóng vai trò luận cứ thực tiễn phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Ba Vì giai đoạn tiếp theo.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và tổ chức phát triển hãy khai thác triệt để các phát hiện khoa học từ công trình này nhằm xây dựng chính sách thích ứng khí hậu và bảo vệ sinh kế bền vững cho đồng bào miền núi ngay hôm nay.