ĐẶT VẤN ĐỀ Quản lý rừng bền vững (QLRBV) và cấp chứng chỉ rừng (CCR) là một trong những giải pháp quan trọng của ngành lâm nghiệp nƣớc ta và đã đƣợc cụ thể hóa trong nhiều văn bản, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc. Chiến lƣợc Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã xác định việc quản lý, sử dụng và phát trển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp. Theo đó, mục tiêu của Chiến lƣợc đến năm 2020 đƣợc xác định là: thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,2 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp và có ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất đƣợc cấp chứng chỉ rừng [19]. Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam liên tục tăng nhanh và đạt mốc 7,2 tỷ USD năm 2015, năm 2016 duy trì đạt 7,308 tỷ USD, đóng góp một phần quan trọng vào GDP của cả nƣớc [23].
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu gỗ và lâm sản nƣớc ta đang đứng trƣớc những thách thức, rào cản rất lớn khi các thị trƣờng xuất khẩu chính của nƣớc ta đều yêu cầu sản phẩm gỗ phải có chứng chỉ, đƣợc kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ từ rừng đƣợc quản lý bền vững. Vì vậy, quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng là một đòi hỏi khách quan đồng thời là một xu hƣớng chung của các nƣớc trên thế giới nhằm đảm bảo sản xuất, kinh doanh và sử dụng rừng lâu dài, liên tục, qua đó gắn kết bảo tồn rừng với phát triển kinh tế, xã hội, môi trƣờng. Hiện nay, quản lý rừng bền vững đã trở thành một trong những chủ đề đƣợc quan tâm bởi cộng đồng Quốc tế. Các nƣớc Bắc Âu, Châu Á - Thái Bình Dƣơng đã đi đầu trong lĩnh vực này và có nhiều thành tựu trong quản lý.
Trên thế giới đã có nhiều bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững cấp quốc gia (Canada, Thụy Điểm, Malaysia, Indonesia, v.) và cấp quốc tế của tiền trình Helsinki, tiến trình Montreal. Hội đồng quản trị rừng (FSC) và tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO) đã xây dựng bộ tiêu chuẩn “Những nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số quản lý rừng đã đƣợc công nhận và áp dụng ở nhiều nƣớc trên thế giới và các tổ chức cấp chứng chỉ rừng đều sử dụng Bộ tiêu chuẩn này để đánh giá việc quản lý và công nhận chứng chỉ rừng. Theo số liệu thống kê về chứng chỉ rừng theo FSC trên thế giới, tính đến ngày 30 tháng 3 năm 2017 đã có 82 quốc gia với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 195,094 triệu ha rừng đƣợc cấp chứng chỉ, trong đó gồm: 1.475 chứng chỉ FM/CoC và 32.057 chứng chỉ CoC [33]. Tuy nhiên, việc triển khai quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng ở nƣớc ta còn khá chậm và khó có thể đạt đƣợc các mục tiêu đề ra nếu không có các giải pháp phù hợp và kịp thời.
Tính đến hết Tháng 3/2017, toàn quốc có 228.927 ha do FSC cấp, trong đó: rừng tự nhiên 86.156 ha, rừng trồng 142.771 ha, chiếm khoảng 2,05% diện tích rừng sản xuất. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc chƣa đạt mục tiêu đặt ra là Việt Nam chƣa có Bộ tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với điều kiện ở Việt Nam mà vẫn hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế FSC, không những tạo điều kiện cho chủ rừng dễ dàng thực hiện các nguyên tắc về QLRBV thuận lợi, với chi phí thấp hơn, mà các sản phẩm gỗ từ nguyên liệu của các khu rừng đạt chứng chỉ sẽ đƣợc mua với gia cao hơn và đƣợc đã số các thị trƣờng chính trên thế giới chấp nhận. Chính vì vậy, trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay Tổng cục Lâm nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển Bộ tiêu chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế, đến nay đã hoàn thành đến Dự thảo số 03. Tuy nhiên, để Bộ tiêu chuẩn có thể áp dụng vào thực tế điều kiện của Việt Nam, đảm bảo tính khả thi áp dụng trong nƣớc, trƣớc khi đề nghị Tổ chức FSC công nhận, việc đánh giá thử Bộ tiêu chuẩn đối với một số chủ rừng và loại hình rừng khác nhau, từ đó xác định những bất cập để điều chỉnh cho phù hợp là rất cần thiết, mang tính quyết định đến sự thành công của việc triển khai quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng ở nƣớc ta.
Xuất phát từ những vấn đề đó tôi thực hiện “Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh” triển khai nhằm góp phần xác định đƣợc các chỉ số chƣa phù hợp, hài hòa giữa bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia với bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hệ thống các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên thế giới Để thực hiện quản lý rừng bền vững, năm 1992 lần đầu tiên Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) đề ra những tiêu chí cho quản lý rừng nhiệt đới. Những năm sau đó vấn đề quản lý rừng bền vững đƣợc quan tâm và thảo luận ở diễn đàn trên khắp thế giới, dẫn đến việc thành lập một loạt các tổ chức quốc tế và quốc gia khuyến khích quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng nhƣ Hội tiêu chuẩn Canada (CSA, 1993, quốc gia), Hội đồng quản trị rừng (Forest Stewardship Council – FSC, 1994, quốc tế), Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI, 1994, Bắc Mỹ), The Programme for the Endorsement of Forest Certification – PEFC năm 1999, Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI, 1998, quốc gia), Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (Malaysian Timber Certification Scheme – MTCS, 1998, quốc gia), Chứng chỉ rừng Chi Lê (CertforChile, 1999, quốc gia), và Chƣơng trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC, 1999, Châu Âu) (Nguyễn Thị Thu Phƣơng, 2016) [11].
Tại hội nghị Helsinki -1993, 38 nƣớc ở Châu Âu đã xác định 6 tiêu chuẩn, 28 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững cho rừng Địa Trung Hải, rừng Ôn đới và rừng Bắc Âu. Tại đại hội Montreal, 12 nƣớc thành viên đã đồng ý thiết lập 7 tiêu chuẩn và 67 chỉ tiêu để quản lý rừng Bắc Mỹ. Ở vùng khô hạn Châu Phi, 27 nƣớc liên quan thống nhất 7 tiêu chuẩn, 47 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững tại cuộc họp chuyên gia UNEP/FAO tổ chức ở Narrobi Kenya năm 1995. Tại cuộc họp chuyên gia FAO/CCAD, các chuyên gia từ 7 nƣớc CCAD đã xác định 8 tiêu chuẩn và 52 chỉ tiêu ở cấp quốc gia, 4 tiêu chuẩn và 40 chỉ tiêu ở cấp vùng cho quản lý rừng bền vững để các nƣớc xem xét (Nguyễn Tuấn Hƣng, 2013) [5].
Tiêu chí và chỉ số là những công cụ có thể đƣợc sử dụng để khái quát, đánh giá và thực hiện quản lý rừng bền vững. Các tiêu chí xác định và mô tả các yếu tố cần thiết, cũng nhƣ một tập hợp các điều kiện, quy trình, theo đó quản lý rừng bền vững có thể đƣợc đánh giá. Chỉ số định kỳ đã cho thấy sự chỉ đạo của sự thay đổi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 đối với từng tiêu chuẩn. Từ các tiêu chuẩn chung, mỗi quốc gia lại có các tiêu chí riêng về quản lý rừng bền vững cấp quốc gia riêng.
Ở cấp độ đơn vị quản lý, ngƣời ta nỗ lực hƣớng vào phát triển các tiêu chuẩn địa phƣơng về các chỉ số quản lý rừng bền vững. Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế, mô hình Mạng lƣới Rừng Quốc tế và các nhà nghiên cứu tại Đại học British Columbia đã phát triển một số công cụ và kỹ thuật để giúp các cộng đồng phát triển các tiêu chuẩn địa phƣơng của mình và các chỉ số. Các tiêu chí và chỉ số cũng là cơ sở của chƣơng trình cấp chứng chỉ rừng của bên thứ ba nhƣ các tiêu chuẩn của Canada tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững. Năm 1999 các chủ rừng ở Châu Âu đã thành lập ra Chƣơng trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC).
PEFC là tổ chức phi chính phủ, hoạt động dựa trên việc công nhận và chứng thực cho CCR quốc gia thành viên. Hiện nay, PEFC là hệ thống chứng chỉ rừng lớn nhất thế giới, bao gồm 43 quốc gia thành viên và hợp tác với các tổ chức quốc tế liên quan nhƣ các tổ chức xã hội dân sự, các doanh nghiệp, cơ quan chính phủ và các cơ quan liên chính phủ. PEFC sử dụng cách tiếp cận từ dƣới lên, nghĩa là dựa trên hệ thống chứng chỉ rừng của các quốc gia thành viên. PEFC là hệ thống chứng chỉ phù hợp với nhiều đối tƣợng khác nhau, bao gồm các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp chế biến, đặc biệt là các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng thông qua việc áp dụng chứng chỉ theo nhóm hoặc theo vùng.
Đến tháng 3/2017, có trên 300 triệu ha rừng đƣợc PEFC chứng nhận với trên 750.000 chủ rừng và có trên 18.800 công ty đƣợc chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm (CoC). Diện tích rừng đƣợc cấp chứng chỉ theo PEFC tăng nhanh, chỉ trong 17 năm 1999 là 0 ha, đến nay đạt 301,6 triệu ha rừng đƣợc cấp chứng chỉ (chi tiết tại hình 1. Các nƣớc sử dụng chứng chỉ PEFC cao nhất ở Canada với 131,1 triệu ha, tiếp đến là Hoa Kỳ với 333,25 triệu ha, Australia với 26,6 triệu ha. Ở Châu Á, các nƣớc sử dụng hệ thống chứng chỉ PEFC gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, Indonexia và một số nƣớc đang xây dựng nhƣ Hàn Quốc, Thái Lan, Lào [14].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Diện tích rừng cấp chứng chỉ rừng PEFC theo các năm Nguồn: https://www.org/ Diện tích rừng đạt Chứng chỉ rừng PEFC trong khu cao nhất thuộc khu vực Bắc Mỹ chiếm 54%, khu vực Châu Âu chiếm 31%, khu vực Châu Á chiếm 4% (chi tiết tại hình 1. Nguồn: https://www.org/ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Để thực trở thành thành viên chính thức của Chƣơng trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC), các quốc gia cần phải đáp ứng 2 điều kiện sau: 1) Có tổ chức bộ máy về chứng chỉ rừng quốc gia do cơ quan có thẩm quyền thành lập. Tổ chức này là tổ chức có tƣ cách pháp nhân và là đầu mối của quốc gia về chứng chỉ rừng (gọi tắt là National Governing Body – NGB).
Tổ chức này có thể là nhà nƣớc, tƣ nhân hoặc dân sự - xã hội và do quốc gia tự quyết định.