Tổng quan nghiên cứu

Quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng đang là yêu cầu cấp thiết của ngành lâm nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam đạt mức 7,2 tỷ USD năm 2015 và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng với 7,308 tỷ USD năm 2016. Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, mục tiêu quốc gia là thiết lập, quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững 16,2 triệu ha đất quy hoạch lâm nghiệp, đồng thời đạt tối thiểu 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ rừng.

Tính đến tháng 3 năm 2017, toàn cầu đã có 82 quốc gia với 195,094 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ Quản lý rừng bền vững theo hệ thống Hội đồng Quản trị Rừng Quốc tế. Tuy nhiên, tại Việt Nam, diện tích rừng có chứng chỉ mới chỉ đạt 228.927 ha, chiếm vỏn vẹn khoảng 2,05% tổng diện tích rừng sản xuất toàn quốc, gồm 86.156 ha rừng tự nhiên và 142.771 ha rừng trồng. Rào cản lớn nhất xuất phát từ việc thiếu một Bộ tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với thể chế, kinh tế - xã hội trong nước nhưng vẫn tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế.

Nghiên cứu này tập trung đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia phiên bản thứ hai theo chuẩn quốc tế tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Với quy mô quản lý 19.745,6 ha rừng và đất lâm nghiệp, nghiên cứu xác định các khoảng trống kỹ thuật trong hệ thống chỉ số, góp phần hoàn thiện khung tiêu chuẩn quốc gia, giúp chủ rừng nâng cao giá trị gỗ thương phẩm từ 20% đến 30% khi tiếp cận các thị trường xuất khẩu cao cấp như Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng bền vững do Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế khởi xướng năm 1992 và hệ thống tiêu chuẩn của Hội đồng Quản trị Rừng Quốc tế phiên bản 5.0. Khung phân tích tích hợp các nguyên tắc cốt lõi từ Chương trình Phê duyệt Chứng chỉ Rừng Châu Âu với quy mô quản lý hơn 300 triệu ha trên toàn cầu.

Các khái niệm học thuật trọng tâm được vận dụng bao gồm: Quản lý rừng bền vững dựa trên sự cân bằng ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường; Chuỗi hành trình sản phẩm; Rừng có giá trị bảo tồn cao; cùng hệ thống Nguyên tắc, Tiêu chí và Chỉ số đánh giá. Nghiên cứu cũng kế thừa quy định tại Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành bộ nguyên tắc gồm 10 nguyên tắc, 51 tiêu chí và 151 chỉ số để đối chiếu với cấu trúc tiêu chuẩn quốc tế mới gồm 10 nguyên tắc, 70 tiêu chí và 205 chỉ số.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp giữa phân tích tài liệu thứ cấp trong phòng và điều tra xã hội học định lượng kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia. Dữ liệu kế thừa bao gồm hồ sơ quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2016-2050, báo cáo kiểm kê đa dạng sinh học ghi nhận 400 loài thực vật và 87 loài động vật, cùng các thống kê chứng chỉ rừng quốc tế cập nhật đến tháng 3 năm 2017.

Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 20 cán bộ chuyên trách, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích đại diện cho 75 nhân sự đang trực tiếp quản lý và thực thi nghiệp vụ lâm sinh tại đơn vị. Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm: 1 cán bộ ban lãnh đạo, 2 cán bộ phòng kế toán, 2 cán bộ phòng tổ chức hành chính, 11 cán bộ phòng quản lý bảo vệ rừng và 4 cán bộ phòng điều tra thiết kế.

Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng chuyên môn này nhằm bảo đảm thu thập ý kiến chính xác từ những nhân sự trực tiếp nắm giữ bằng chứng kiểm toán tại hiện trường. Toàn bộ dữ liệu khảo sát 205 chỉ số được mã hóa và xử lý thống kê mô tả trên phần mềm chuyên dụng nhằm phân loại mức độ tương thích thành 4 mức: rất phù hợp, phù hợp, phù hợp thấp và không phù hợp. Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu được triển khai chặt chẽ từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả đánh giá tài nguyên tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn cho thấy tổng diện tích quản lý là 19.745,6 ha với độ che phủ rừng đạt 94,8%, tổng trữ lượng gỗ ước tính trên 1,07 triệu m3. Diện tích rừng tự nhiên là 18.493,4 ha, trong đó trạng thái rừng giàu và trung bình đạt 8.282,48 ha, chiếm 43% diện tích tự nhiên với trữ lượng bình quân từ 136,6 đến 241 m3/ha. Phương án kinh doanh bền vững xác định diện tích khai thác chọn luân kỳ 35 năm là 5.238,4 ha, cung ứng đều đặn 3.125 m3 gỗ lớn và 520 m3 gỗ tận dụng mỗi năm.

Về mức độ phù hợp của 205 chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn thử nghiệm, nhóm nguyên tắc xã hội từ Nguyên tắc 1 đến Nguyên tắc 4 đạt tỷ lệ phù hợp cao nhất với trên 85% chỉ số tương thích hoàn toàn với điều kiện doanh nghiệp. Đơn vị bảo đảm việc làm thường xuyên cho 350 cán bộ nhân viên và tạo sinh kế mùa vụ cho hơn 300 lao động địa phương thuộc 5 xã vùng đệm.

Tuy nhiên, nhóm chỉ số kinh tế gồm Nguyên tắc 7, Nguyên tắc 8, Nguyên tắc 10 và nhóm chỉ số môi trường gồm Nguyên tắc 5, Nguyên tắc 6, Nguyên tắc 9 bộc lộ nhiều điểm bất cập. Cụ thể, khoảng 18% số chỉ số bị đánh giá là khó thực hiện hoặc không phù hợp do yêu cầu kỹ thuật quá cao so với nguồn lực thực tế, tiêu biểu như quy trình giám sát tác động môi trường chuyên sâu và hồ sơ theo dõi diễn biến động vật nguy cấp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự không tương thích của một số tiêu chí kinh tế và môi trường là do sự khác biệt giữa hướng dẫn lý thuyết quốc tế và khung pháp lý thực tế tại Việt Nam. Doanh nghiệp lâm nghiệp trong nước gặp khó khăn lớn về nguồn tài chính khi chi phí duy trì chứng nhận quốc tế lên tới khoảng 400 triệu đồng mỗi năm cùng phí đánh giá khoảng 800 đồng/ha rừng. Bên cạnh đó, tình trạng chồng lấn ranh giới đất đai và việc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng bộ cản trở việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý theo Nguyên tắc 1.

So sánh với các quốc gia trong khu vực Châu Á như Malaysia đạt 4,6 triệu ha rừng có chứng chỉ thông qua Hội đồng Chứng chỉ Gỗ Malaysia và Trung Quốc đạt 5,3 triệu ha thông qua Hội đồng Chứng chỉ Rừng Quốc gia, sự thành công của họ bắt nguồn từ việc xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia dung hòa được luật pháp bản địa với tiêu chuẩn quốc tế. Tại Việt Nam, việc thiếu vắng tổ chức chứng chỉ rừng quốc gia và đội ngũ chuyên gia đánh giá độc lập được công nhận quốc tế là nút thắt lớn nhất.

Dữ liệu đánh giá thử nghiệm được tổng hợp và hiển thị trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện mức độ tương thích của 3 nhóm trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường, đi kèm bảng thống kê 205 chỉ số phân loại chi tiết các điểm cần sửa đổi, bổ sung minh chứng thực địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phối hợp với các tổ chức quốc tế hoàn thiện và chính thức ban hành Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia tương thích với tiêu chuẩn quốc tế, hướng tới mục tiêu phê duyệt chính thức nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất cho toàn bộ 16,2 triệu ha đất lâm nghiệp.

Thứ hai, Tổng cục Lâm nghiệp cần đẩy nhanh tiến độ thành lập Văn phòng Chứng chỉ rừng Quốc gia, hoàn thành việc xây dựng bộ máy vận hành để chủ động quản lý hệ thống chứng chỉ trong nước, đồng thời đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề cho tối thiểu 50 kiểm toán viên rừng độc lập đạt chuẩn quốc tế.

Thứ ba, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và các cơ quan địa phương cần khẩn trương xử lý dứt điểm các tranh chấp ranh giới, hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% diện tích 19.745,6 ha do Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn quản lý, tạo cơ sở pháp lý vững chắc phục vụ công tác kiểm toán chứng chỉ.

Thứ tư, các công ty lâm nghiệp và chủ rừng cần chuyển đổi mô hình kinh doanh từ khoanh nuôi thuần túy sang quản lý đa dụng, triển khai khai thác chọn 5.238,4 ha rừng theo luân kỳ 35 năm, đồng thời xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ lâm sản có chứng chỉ với mức giá thu mua cao hơn từ 20% đến 30% để tái đầu tư vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp: Tổng cục Lâm nghiệp, các Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể sử dụng dữ liệu đánh giá 205 chỉ số để làm căn cứ điều chỉnh chính sách, hoàn thiện các thông tư hướng dẫn về phương án quản lý rừng bền vững cấp quốc gia.

Các công ty lâm nghiệp và ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng: Đội ngũ lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật của các chủ rừng quy mô lớn có thể áp dụng trực tiếp quy trình 4 bước đánh giá hồ sơ và kỹ thuật hiện trường để chuẩn bị đầy đủ điều kiện trước khi đón các đoàn đánh giá chứng chỉ quốc tế.

Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội ngành gỗ: Các đơn vị phát triển như WWF, SNV, GIZ và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản có thể khai thác bài học thực tiễn tại Hương Sơn nhằm thiết kế các chương trình hỗ trợ kỹ thuật, tài trợ chứng chỉ nhóm cho các hộ gia đình trồng rừng quy mô nhỏ.

Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Lâm học: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết chuẩn hóa, hệ thống dữ liệu điều tra thực địa 400 loài thực vật và 87 loài động vật, đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về kinh tế lâm nghiệp và lâm sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia mang lại lợi ích gì so với việc áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn quốc tế? Áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn quốc tế thường gặp rào cản do chi phí cao và nhiều chỉ số không tương thích với luật pháp Việt Nam. Bộ tiêu chuẩn quốc gia được nội địa hóa giúp giảm chi phí đánh giá xuống khoảng 800 đồng/ha, dễ thực thi cho chủ rừng trong nước nhưng vẫn được thị trường quốc tế công nhận.

Tỷ lệ diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC tại Việt Nam hiện nay đạt mức nào? Tính đến tháng 3 năm 2017, toàn quốc mới có 228.927 ha rừng đạt chứng chỉ, chiếm khoảng 2,05% tổng diện tích rừng sản xuất. Tỷ lệ này còn rất khiêm tốn so với mục tiêu 30% diện tích rừng sản xuất theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam đến năm 2020.

Sản phẩm gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững mang lại giá trị gia tăng cụ thể ra sao? Gỗ có chứng chỉ đáp ứng đầy đủ yêu cầu truy xuất nguồn gốc hợp pháp theo Đạo luật Lacey của Hoa Kỳ và quy định gỗ của Liên minh Châu Âu. Nhờ đó, sản phẩm gỗ có chứng chỉ được thu mua với giá cao hơn từ 20% đến 30% so với gỗ không có chứng chỉ.

Những nhóm chỉ số nào trong bộ tiêu chuẩn 205 chỉ số bộc lộ nhiều bất cập nhất khi thử nghiệm? Khảo sát thực tế chỉ ra nhóm chỉ số kinh tế tại Nguyên tắc 7, Nguyên tắc 8, Nguyên tắc 10 và nhóm chỉ số môi trường tại Nguyên tắc 5, Nguyên tắc 6, Nguyên tắc 9 bộc lộ nhiều vướng mắc nhất, với khoảng 18% chỉ số đòi hỏi chi phí giám sát quá lớn hoặc chưa có quy định pháp lý tương ứng.

Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn đã chuẩn bị những nguồn lực gì cho phương án quản lý rừng bền vững? Công ty đã quy hoạch 19.745,6 ha đất lâm nghiệp, xác định 5.238,4 ha rừng sản xuất khai thác chọn luân kỳ 35 năm để cung cấp 3.125 m3 gỗ lớn/năm, đồng thời duy trì đội ngũ 350 lao động chuyên nghiệp và liên kết bảo vệ rừng với hơn 300 hộ dân địa phương.

Kết luận

Đánh giá thực trạng 19.745,6 ha rừng tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn cho thấy tiềm năng kinh tế lâm nghiệp lớn với hơn 1,07 triệu m3 trữ lượng gỗ và độ che phủ rừng đạt 94,8%.

Hệ thống hóa và thử nghiệm thành công 205 chỉ số của Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia, xác định nhóm nguyên tắc xã hội đạt độ tương thích trên 85% trong khi nhóm kinh tế và môi trường cần điều chỉnh 18% chỉ số.

Làm rõ các rào cản cốt lõi về chi phí duy trì chứng nhận 400 triệu đồng/năm, tính pháp lý đất đai và sự thiếu hụt kiểm toán viên độc lập trong nước đạt chuẩn quốc tế.

Đề xuất lộ trình đồng bộ từ cấp trung ương đến địa phương nhằm kiện toàn Văn phòng Chứng chỉ rừng Quốc gia và hoàn thiện hồ sơ cấp chứng nhận quyền sử dụng đất trước năm 2019.

Chủ rừng và các doanh nghiệp chế biến gỗ cần chủ động liên kết, áp dụng bộ tiêu chuẩn quốc gia để mở rộng diện tích rừng có chứng chỉ, nâng cao giá trị gia tăng từ 20% đến 30% cho ngành lâm nghiệp Việt Nam.