MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Xưa nay khi nói đến trà Việt, người ta thường hay nghĩ ngay đến trà Thái Nguyên. Với diện tích trồng chè khoảng 17.660 ha, đứng thứ hai cả nước (sau Lâm Đồng), Thái Nguyên nằm trong vùng trồng chè lâu đời của Việt Nam. Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái nguyên có nhiều khả năng phát triển nghành trồng chè.
Cây chè được coi là cây kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thái Nguyên. Sản phẩm chè là thức uống có giá trị dinh dưỡng cao, nó không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu ra nước ngoài, đưa lại lợi nhuận cao cho nền kinh tế nước nhà. Vớí khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều, Thái Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển nghành trồng chè nhưng đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại. Phương pháp phổ biến của người dân khi cây trồng xuất hiện sâu bệnh là sử dụng thuốc BVTV.
Với khả năng diệt trừ dịch hại nhanh, dễ sử dụng có thể ngăn chặn các đợt dịch trong thời gian ngắn, có hiệu quả mọi lúc mọi nơi, dễ dàng mua bán trao đổi, đôi khi thuốc BVTB còn là giải pháp duy nhất. Nếu sử dụng đúng mục đích, đúng kĩ thuật và có sự chỉ đạo đồng bộ, thuốc BVTV sẽ đem lại hiệu quả tốt trong quản lý dịch hại cây trồng và bảo vệ nông sản. Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ cây trồng vẫn là biện pháp quan trọng và chủ yếu. Cùng với thuốc BVTV thì phân bón hóa học cũng là yếu tố rất quan trọng để cây trồng phát triển một cách thuận lợi, cho hiệu quả năng suất cao.
e 2 Thuốc BVTV và phân hóa học là một trong những chất hóa học do con người tạo ra, ngoài những mặt lợi nó cũng gây ra những ảnh hưởng và khó khăn do quá lạm dụng gây ra những ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường đặc biệt là môi trường đất. Đây là vấn đề cần được quan tâm, vì mỗi năm lượng phân bón hóa học và thuốc BVTV được sử dụng là không hề nhỏ, những hệ lụy tới môi trường là không thể tránh khỏi. Những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp đã và đang được các nhà khoa học và các nhà quản lý môi trường quan tâm. Tuy nhiên thực trạng ngày càng trầm trọng và đã trở thành “vấn nạn” vì luôn thiếu các biện pháp và chế tài cụ thể.
Minh Lập là một trong số những vùng sản xuất chè được đánh giá là vùng đất sản xuất chè ngon đặc biệt ở Thái Nguyên. Cây chè đã có mặt trên đất Minh Lập từ trước năm 1960, với thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, người dân lại có kinh nghiệm trồng chè nên chè ở đây có hương vị đặc trưng khó lẫn, đó là loại chè rất đậm và nịnh hương. Tuy nhiên việc lạm dụng thuốc BVTV và phân hóa học trong vài năm gần đâycủa người dân đã gây ra những ảnh hưởng không tốt đến môi trường. Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Quản lý tài nguyên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học và ảnh hưởng của nó đến môi trường đất trồng chè tại xã Minh Lập, Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên”.
Mục đích nghiên cứu - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương. - Đánh giá hiểu biết, tình hình sử dụng thuốc BVTV, phân bón hóa học và ảnh hưởng của việc ô nhiễm thuốc BVTV, phân bón hóa học đến môi trường đất cũng như tới sức khỏe của người dân. e 3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của việc xử dụng thuốc BVTV và phân hóa học đến đặc điểm, tính chất của đất. - Trên cơ sở đánh giá để đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do thuốc BVTV và phân bón hóa học, nâng cao ý thức người dân cũng như hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV, phân bón hóa học tại địa phương.
Yêu cầu của đề tài - Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, số liệu, tài liệu điều tra phải trung thực, chính xác, đảm bảo độ tin cậy. - Việc phân tích mẫu phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật. - Đánh giá đúng thực trạng sử dụng thuốc BVTV và phân bón hoá học trên địa bàn nghiên cứu. - Các đề nghị, kiến nghị phải có tính khả thi với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở lý luận * Khái niệm đất: "Đất hay thổ nhưỡng là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nước, không khí, sinh vật". Các thành phần chính của đất là chất khoáng, nước, không khí, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh vật cho đến côn trùng, chân đốt v.
Thành phần chính của đất được trình bày trong hình sau: Đất có cấu trúc hình thái rất đặc trưng, xem xét một phẫu diện đất có thể thấy sự phân tầng cấu trúc từ trên xuống dưới như sau: - Tầng thảm mục và rễ cỏ được phân huỷ ở mức độ khác nhau. - Tầng mùn thường có mầu thẫm hơn, tập trung các chất hữu cơ và dinh dưỡng của đất. - Tầng rửa trôi do một phần vật chất bị rửa trôi xuống tầng dưới. - Tầng tích tụ chứa các chất hoà tan và hạt sét bị rửa trôi từ tầng trên.
- Tầng đá mẹ bị biến đổi ít nhiều nhưng vẫn giữ được cấu tạo của đá. - Tầng đá gốc chưa bị phong hoá hoặc biến đổi. * Khái niệm chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng chức năng của cơ thể làm cho sinh vật ngộ độc hoặc chết. * Khái niệm về độc tính: Độc tính: Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lượng nhất định của chất độc đó(Trần Oánh, 2007) [6].
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật. Độc tính được chia ra các dạng: e 5 - Độc cấp tính: Chất độc xâm nhập vào cơ thể sinh vật gây nhiễm độc tức thì, ký hiệu LD50 (Letal Dosis 50), biểu thị lượng chất độc (mg) đối với 1kg trọng lượng cơ thể có thể gây chết 50% cá thể vật thí nghiệm (thường là chuột hoặc thỏ). Nếu chất độc lần với không khí (hơi độc hay ở trong nước) thì được ký hiệu LC50 (Letal Concentration 50) biểu thị lượng chất độc (mg) trong một m3 không khí hoặc một lít nước có thể gây chết 50% cá thể thí nghiệm. LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độ độc cấp tính càng cao.
- Độc mãn tính (độc trường diễn): Chỉ khả năng tích lũy chất độc trong cơ thể, khả năng gây đột biến, gây ung thư hoặc quái thai, dị dạng. * Khái niệm liều lượng: Là lượng chất độc cần thiết tính bằng gam hay mg để gây tác động nhất định lên trên cơ thể sinh vật trong nghiên cứu độc lý. Liều lượng sử dụng: là liều lượng cần thiết dùng để phun trên diện tích nhất định, được chia ra: - Liều lượng hoạt chất: Là lượng thuốc nguyên chất cần thiết dùng cho một đơn vị diện tích g, kg a.i với thuốc ở thể rắn, hoặc ml a.i với thuốc ở thể lỏng.i là đơn vị hoạt chất) - Liều lượng thuốc thương phẩm: là lượng thuốc thương phẩm cần thiết cho một đơn vị diện tích, được tính bằng g, kg, lít, ml thuốc thương phẩm trên một đơn vị diện tích nào đó. * Khái niệm về thuốc BVTV: Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật.
Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác (Trần Văn Hải, 2008) [3]. e 6 * Phân loại thuốc BVTV: Theo yêu cầu nghiên cứu và sử dụng có thể phân loại thuốc BVTV thành các loại sau: - Dựa vào đối tượng phòng chống: +) Thuốc trừ sâu (Insecticide): Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kì loại côn trùng nào có mặt trong môi trường. Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn chặn tác hại của côn trùng đến cây trồng cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người. +) Thuốc trừ bệnh: Bao gồm các chất có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ, sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật) có tác dụng diệt trừ hoặc ngăn ngừa các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản.
+) Thuốc trừ chuột (Rodenticide hay raticide): Là những hợp chất vô cơ, hữu cơ hoặc nguồn gốc sinh học được dùng để diệt chuột và các loài gặm nhấm. +) Thuốc trừ nhện ( Acricide hay Miticide): Là những hợp chất chủ yếu trừ nhện hại cây trồng, đặc biệt là nhện đỏ. +) Thuốc trừ cỏ (Herbicide): Các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trưởng của cây trồng, các loài thực vật hoang dại mọc trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay đường sắt…và gồm các thuốc trừ rong rêu trên đồng ruộng kênh mương. Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất vì vậy khi sử dụng thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng.
+) Thuốc trừ tuyến trùng (Nematode): Các chất xông hơi và nội hấp được dùng để sử lý đất trừ tuyến trùng trong đất, trong cây. - Dựa vào con đường xâm nhập đến dịch hại:Tiếp xúc, xông hơi và nội hấp: +) Thuốc có tác dụng tiếp xúc: Là những loại thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua biểu bì của dịch hại. e 7 +) Thuốc có tác dụng vị độc: Là những loại thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua đường tiêu hóa của dịch hại. +) Thuốc có tác dụng xông hơi: Là loại thuốc có khả năng bốc hơi, đầu độc bầu không khí xung quanh cơ thể dịch hại và được xâm nhập vào cơ thể dịch hại qua bộ máy hô hấp.