MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng cho hàng triệu người dân hiện nay. Đặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa quan trọng với nước ta khi có tới 70% dân số sống dựa vào nông nghiệp. Sự gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp kết hợp với nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của cuộc sống đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển bùng nổ của ngành chăn nuôi để đáp ứng các nhu cầu là một tất yếu. Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, con người đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế đã gây ra những hậu quả nặng nề đối với môi trường như: thiên tai lũ lụt với tần suất ngày càng cao, thời tiết thay đổi khắc nghiệt, trái đất nóng lên… môi trường không những bị ô nhiễm do các hoạt động kinh tế ở các khu công nghiệp, đô thị và các thành phố lớn mà ở cả những vùng nông thôn với nền kinh tế nông nghiệp mà chủ yếu do hoạt động chăn nuôi. Việt Nam đang là một nước đang phát triển với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp.
Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Những năm qua ngành chăn nuôi phát triển cả về số lượng lẫn quy mô. Đặc biệt lĩnh vực chăn nuôi đang có xu hướng phát triển với quy mô trang trại. Từ việc chủ yếu là trồng cây lương thực trước đây, ngày nay việc gia tăng sản lượng thực phẩm từ chăn nuôi gia súc trong nông nghiệp đã đem lại những bước tiến trong nông nghiệp.
Nó đã đem lại hiệu quả kinh tế cao góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đồng thời cải thiện đáng kể đời sống của bà con nông dân. Hiện nay, loại hình chăn nuôi đang được người dân các địa phương quan tâm, trong đó chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ lớn nhất, kế đến là chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi trâu bò… n Tuy nhiên, việc chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch, nhất là ở các khu dân cư cùng với sự phát triển chăn nuôi một cách tràn lan trong điều kiện người dân thiếu vốn, thiếu hiểu biết trong chăn nuôi đã và đang làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng nói chung và những người trực tiếp chăn nuôi gia súc nói riêng. Xã Năng Khả là một xã miền núi thuộc huyện Na Hang, Tuyên Quang có 16 thôn có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống. Cơ cấu phát triển kinh tế nông nghiệp luôn ở mức cao, trong đó việc phát triển chăn nuôi đàn gia súc gia cầm đang được bà con nông dân áp dụng vào phát triển kinh tế hộ gia đình.
Trong quá trình thực hiện chương trình nông thôn mới, xã đã chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trong đó chú trọng phát triển ngành chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn vì vậy chăn nuôi lợn trên địa bàn xã trong những năm qua đã có bước phát triển đáng kể, nhất là các hộ gia đình đã mở rộng quy mô chăn nuôi, số lượng đầu lợn tăng mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Tuy nhiên cùng với những hiệu quả kinh tế mà chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng mang lại thì vấn đề môi trường trong chăn nuôi được đặt ra. Nhất là vấn đề nước thải chăn nuôi lợn tại các hộ gia đình rất đáng lo ngại, nước thải hòa lẫn với phân và các chất thải từ hoạt động chăn nuôi được thải trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý. Các chất thải từ phân gia súc và các chất thải từ chăn nuôi không được xử lý đã gây tác động xấu đến môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người chăn nuôi gia súc cũng như người dân xung quanh.
Nước thải còn gây hiện tượng phú dưỡng tại các ao, hồ, đồng ruộng xung quanh khu vực chăn nuôi. Ở xã Năng Khả khía cạnh môi trường mới được biết đến và quan tâm trong vài năm trở lại đây khi ngành chăn nuôi ngày càng phát triển mạnh, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu, đánh giá cụ thể nào về môi trường ở xã nhằm xây dựng chính sách quản lý và các giải pháp kỹ thuật để giảm thiểu ô nhiễm.Vì thế việc đánh giá hiện trạng môi trường nước thải chăn nuôi lợn để đưa ra các biện pháp phòng ngừa và xử lý là vấn đề cần thiết. n Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá thực trạng môi trường nước thải chăn nuôi của một số hộ gia đình chăn nuôi lợn quy mô nhỏ trên địa bàn xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” 1.
Mục đích của đề tài Đánh giá thực trạng môi trường nước thải ở một số hộ gia đình chăn nuôi lợn quy mô nhỏ trên địa bàn xã Năng Khả- Na Hang- Tuyên Quang. Mục tiêu - Đánh giá thực môi trường nước thải tại một số hộ gia đình chăn nuôi lợn quy mô nhỏ. - Những ảnh hưởng của nước thải chăn nuôi đến sức khỏe người dân và môi trường xung quanh. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường nói chung và môi trường chăn nuôi lợn nói riêng.
Yêu cầu của đề tài. - Phản ánh được đúng chất lượng môi trường nước thải trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình. - Các mẫu nước thải phải được lấy trong hộ gia đình chăn nuôi lợn và số liệu phân tích đúng. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tế, rèn luyên kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu. - Là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và học hỏi các kinh nghiệm từ thực tế, đồng thời nâng cao kiên thức trong lĩnh vực nghiên cứu, khả năng tiếp cận và xử lý thông tin. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiên tốt hơn phục vụ công tác sau khi ra trường. Ý nghĩa thực tiễn n Qua quá trình nghiên cứu thực trạng môi trường nước thải chăn nuôi của một số hộ gia đình chăn nuôi lợn quy mô nhỏ để biết được điểm mạnh, mặt yếu kém, những khó khăn và tồn tại trong quá trình chăn nuôi và bảo vệ môi trường từ đó tìm ra cá giải pháp phù hợp với điều kiện của các hộ gia đình.
Giúp các hộ gia đình có công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe tốt hơn. n PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận * Môi trường: Trong Luật Bảo vệ Môi trường đã được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 định nghĩa như sau: Môi trường bao gồm các yếu tố nhân tạo và vật chất bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự phát triển và tồn tại của con người và sinh vật.
* Ô nhiễm môi trường: Theo điều 6 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. * Ô nhiễm môi trường nước: Là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước, không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các sông suối, nước tồn tại ở thể hơi trong không khí. Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống sinh vật trong tự nhiên.
Nước bị ô nhiễm khó khắc phục mà phải phòng tránh ngay từ đầu. * Suy thoái nguồn nước: Là sự giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong thời kỳ trước đó. * Cạn kiệt nguồn nước: Là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn nước làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy thì hệ sinh thái thủy sinh. * Khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước: Là khả năng của nguồn nước có thể tiếp nhận thêm một lượng nước mà vẫn đảm bảo chất lượng nguồn nước cho mục đích sử dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật nước ngoài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép áp dụng n * Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở trong thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
* Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu. * Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ khu dân cư, khu hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở trường học khác. * Nước thải chăn nuôi: Là một loại nước thải nước thải rất đặc trưng và có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao do có chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, cặn lơ lửng như N, P và vi sinh vật gây bệnh. * Nước thải chăn nuôi lợn: Bao gồm chất thải rắn và chất thải lỏng, chất thải rắn bao gồm phân, gia súc chết, nhau thai., chất thải lỏng bao gồm nước tiểu, chất nhầy, nước rửa chuồng và rửa dụng cụ trong chăn nuôi.