Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Các khái niệm liên quan - “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngươì, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật” (Luật bảo vệ môi trường, 2005). - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp vối tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật [8].
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học [8]. - Nông thôn là vùng khác với đô thị mà ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn”.[1] - Phát triển nông thôn Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “ Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển” [3].
Quan điểm khác lại cho rằng, phát triển nông thôn nhằm nâng cao về vị thể kinh tế và xã hội cho người dân nông thôn qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực. n 5 Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Phát triển nông thôn là qua trình thực hiện hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn,nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học và công nghệ. Đồng thời đây là quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn.
Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường. Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam , được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [3]. - Mô hình nông thôn mới Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ đựơc nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam. Nhìn chung: mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa.
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tấ cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước. Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt” [20]. n 6 - Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm có 11 nội dung, trong đó nội dung thứ 9 nói về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. + Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã.
Đến năm 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến năm 2020 có 80% số xã đạt chuẩn. + Nội dung: - Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; - Nội dung 2: Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng.[9] - Mô hình DPSIR * Khái niệm về mô hình DPSIR: Do tổ chức Môi trường châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999, được viết tắt của 5 từ tiếng Anh: [6] - Driving Forces (D), có nghĩa là lực. Lực điều khiển (Dự án EIR dịch là động lực), lực điều khiển có tình khái quát nào đang tác động lên môi trường của địa bàn đang được xem xét, ví dụ: Sự gia tăng dân số, công nghiệp hoá, đô thị thị hoá. - Pressure (P), có nghĩa là áp lực.
Áp lực lên nhân tố môi trường. Ví dụ: Xả thải khí, nước đã bị ô nhiễm, chất thải rắn, chất thải độc hại vào môi trường. - State (S), có nghĩa là tình trạng. Tình trạng môi trường tại một thời điểm hoặc thời gian nhất định.
Ví dụ tình trạng không khí, nước, đất, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học. n 7 - Impact (I), có nghĩa là tác động. Tác động tiêu cực hoặc tích cực của tình trạng đó đối với con người cũng như điều kiện sinh sống, hoặt động sản xuất .của con người. - Response (R), có nghĩa là đáp ứng.
Con người có những hoạt động gì để đáp ứng nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực nêu trên. Mô hình DPSIR nói lên rằng để hiểu tình trạng, môi trường tại một địa bàn, có thể là trên toàn cầu, tại một quốc gia, một tỉnh hay một địa phương ta phải biết. * Theo thông tư 09/2009/TT – BTNMT ngày 11/8/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường được định nghĩa như sau: Mô hình DPSIR là mô hình mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực - D (phát triển kinh tế - xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) - Áp lực - P (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường) - Hiện trạng - S (hiện trạng chất lượng môi trường) - Tác động - I (tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khoẻ cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái) - Đáp ứng - R (các giải pháp bảo vệ môi trường). Cơ sở pháp lý + Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
+ Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới. + Quyết định số 3875/QĐ – UBND.NN ngày 31/8/2010 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt kế hoạch chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2020. + Công văn số 2536/HD.KHTC ngày 02/11/2010 của UBND tỉnh Nghệ An về hướng dẫn về việc xây dựng kế hoạch hàng năm cho xã để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010 – 2020. Cơ sở thực tiễn 1.
Một số đặc điểm về hiện trạng môi trường trên thế giới Theo Lê Thạc Cán [2], Trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tinh hình môi trường trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả các nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên có những đặc điểm sau: * Tăng trưởng dân số nhanh: Dân số thế giới đã lên tới 6,7 tỉ người, các thành phố đông dân nhất trên thế giới hiện nay là Tokyo là 35 triệu người, Mexico 19,4 triệu người, NewYock 18,7 triệu người, Bombay là 18,2 triệu người. Trên thế giới bình quân mỗi giây có 3 trẻ em ra đời, mỗi ngày nhân loại sản sinh ra 30 vạn trẻ em. Với tốc độ sinh đẻ này thì đến năm 2120 dân số thế giới sẽ vượt quá 15 tỉ người, lúc đó mọi nơi trên thế giới đều lâm vào cảnh đất chật người đông. Dân số càng nhiều, sức ép về thực phẩm, lương thực, năng lượng, môi trường, tài nguyên cũng ngày càng lớn.
* Suy giảm tài nguyên đất: Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với sự gia tăng dân số và suy giảm tài nguyên đất. Theo số liệu của Viện Tài nguyên môi trường thế giới, vào năm 1993 quỹ đất cho toàn nhân loại là 13.041,7 triệu ha, trong đó trồng trọt chiếm khoảng 20,6 %, đồng cỏ chiếm 69,6 %. Diện tích đất bình quân loài người trên toàn thế giới là 2,432 ha, ở châu Á là 0,81 ha, châu Âu là 0,91 ha. Phần lớn đất trồng trọt tăng lên là lấy từ đất rừng, gây nên những hậu quả xấu về môi trường.
* Đô thị hoá mạnh mẽ: Quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng trên toàn Thế giới, với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3 - 5% cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Năm 1995, 45% dân số thế giới sống ở các đô thị. Dự báo đến năm 2020, tại các nước đang phát triển trong khu vực 50 % dân số sống ở các đô thị và tại các nước phát triển tỉ lệ này là 75 %.