Đặt vấn đề Tre, trúc là loại cây mọc phổ biến ở Việt Nam và đã trở thành một biểu tượng của làng quê Việt Nam. Tre, trúc mọc từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, từ nam chí bắc chỗ nào cũng có tre, trúc. Tre, trúc cũng được gây trồng và sử dụng rộng rãi trong nhân dân từ lâu đời. Ở nông thôn chúng ta trước đây hầu như tất cả vật dụng trong đời sống, sản xuất đều được làm từ tre, trúc.
Các cụ ta ngày xưa không chỉ dùng chiếu cói mà còn dùng cả chiếu trúc, không chỉ bàn ghế gỗ mà còn dùng cả bàn ghế, tủ, giường làm bằng tre, trúc. Những đồ dùng và vật trang trí bằng tre, trúc có giá trị sử dụng cao bởi sự tiện lợi và thoải mái của loài cây thân thuộc với quê hương. Ngày nay, tuy tốc độ đô thị hóa cao, nhiều vật dụng thay thế nhưng cây tre, trúc cũng không thể vắng bóng. Tỉnh Cao Bằng là vùng đất được thiên ưu đãi, khí hậu ôn hoà, cây cối xanh tốt quanh năm.
Đặc biệt điều kiện khí hậu, đất đai tại một số vùng của các huyện: Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thông Nông, Hoà An phù hợp cho cây trúc sào phát triển. Từ nhiều năm nay, cây trúc sào trở thành cây xoá đói giảm nghèo hiệu quả của nông dân. Để khai thác hiệu quả tiềm năng về đất rừng và giá trị kinh tế mà cây trúc mang lại tỉnh Cao Bằng đã đầu tư dây chuyền sản xuất chế biến trúc, làm ra nhiều sản phẩm, như: bàn, ghế, chiếu, mành trúc, gạy sào, rèm, tăm… phục vụ nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu. Ngày 05/11/1994 Công ty cổ phần chế biến trúc tre xuất khẩu Cao Bằng, tiền thân là xí nghiệp chế biến trúc tre xuất khẩu Cao Bằng, được thành lập với ngành nghề chính là chế biến lâm sản, sản phẩm mũi nhọn là trúc, tre xuất khẩu.
Tháng 01 năm 1995 công ty chính thức đi vào hoạt động Hoạt động sản xuất của Công ty không những tạo ra các sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng trong nước, trong tỉnh mà còn là mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng và có thương hiệu như chiếu trúc Cao Sơn. Công ty đã và đang đóng góp một nguồn thu lớn cho tỉnh Cao Bằng, cho sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, góp phần giải quyết nhu cầu việc làm cho người lao động n 2 trên địa bàn Tỉnh. Tuy nhiên bên cạnh những hiệu quả mà công ty đã mang lại thì cũng có không ít những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường. Xuất phát từ vấn đề thực tế trên và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường tại Công ty cổ phần chế biến trúc, tre xuất khẩu Cao Bằng”, để đánh giá thực trạng môi trường và đề ra được những giải pháp góp phần bảo vệ môi trường tại khu vực cơ sở sản xuất.
Mục đích nghiên cứu - Đánh giá thực trạng môi trường ( đất, nước, không khí, hiện trạng chất thải rắn) và công tác bảo vệ môi trường của Công ty cổ phần chế biến trúc tre xuất khẩu Cao Bằng. - Đề xuất một số giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại và phát huy những thành tích đã đạt được nhằm ngăn ngừa giảm thiểu ô nhiễm. Yêu cầu của đề tài - Thông tin và số liệu thu được phải chính xác, khách quan, trung thực - Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đẩm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu. - Kết quả phân tích phải chính xác - Giải pháp kiến nghị đưa ra phải thực tế, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện của nhà máy 1.
Ý nghĩa của đề tài a. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Thời gian làm đề tài tốt nghiệp là dịp sinh viên tự khẳng định mình, biến những kiến thức đã học thành kiến thức của mình. Cũng qua quá trình làm đề tài học được cách làm việc nghiên cứu độc lập, tính kỉ luật trong công việc, tiếp cận dần với công việc và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này - Vận dụng và phát huy được những kiến thức đã học, kĩ năng, cơ hội cọ sát với những kiến thức thực tiễn cho bản thân phục vụ cho công tác sau này. - Kết quả của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo tài liệu thứ cấp là thông tin cơ sở trong công tác đánh giá thực trạng môi trường và các giải pháp bảo vệ môi trường.
n 3 - Qua quá trình tìm hiểu và đánh giá có cái nhìn tổng quan về hiện trạng môi trường và sự hiệu quả của các biện pháp bảo vệ môi trường đang sử dụng trong nhà máy.Đó là những tiền đề để có những biện pháp,đề xuất điều chỉnh cho công tác bảo vệ môi trường của nhà máy phù hợp với điều kiện tương lai. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Đánh giá ảnh hưởng của nhà máy sản xuất trúc tre xuất khẩu tới môi trường. - Đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý chất thải của nhà máy - Đề xuất những giải pháp quản lý, giảm thiểu và xử lý ô nhiễm môi trường n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các cơ sở nghiên cứu của đề tài 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Khái niệm về môi trường Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt từ sau hội nghị Stockholm về môi trường và con người năm 1972. Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà người nghiên cứu có những định nghĩa cho phù hợp. Một số định nghĩa về môi trường: * Định nghĩa 1: Theo định nghĩa rộng nhất thì môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc sự kiện. Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường.
Theo Lê Văn Khoa, đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể [5]. * Định nghĩa 2: Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quannh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật. Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận, môi trường có các thành phần chính tác động qua lại lẫn nhau: Môi trường tự nhiên bao gồm nước, không khí, đất đai, ánh sáng và các sinh vật. Môi trường kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người.
Môi trường không gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường [5]. * Định nghĩa 3: Theo Vũ Trung Tạng thì môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên,… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài,… có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình [5]. n 5 Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng. Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin…) trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người”[5].
Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”[7]. Khái niệm về ô nhiễm môi trường Theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 : “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”[7]. Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân gây ô nhiềm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu [7]. Ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi). n 6 Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo.
- Nguồn tự nhiên: + Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói bụi giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác. Không khí chứa bụi lan toả đi rất xa vì nó được phun lên rất cao. + Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự nhiên xảy ra do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ. Các đám cháy này thường lan truyền rộng, phát thải nhiều bụi và khí.
+ Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối lan truyền vào không khí. + Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật tự nhiên cũng phát thải nhiều chất khí, các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí sunfua, nitrit, các loại muối v. Các loại bụi, khí này đều gây ô nhiễm không khí.