CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU. 6 CHƯƠNG 2 : ĐÓI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cỨu. Thiết kế nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu.--ocsse55sss<sesesesesesseesee 16 CHƯƠNG 3: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN. Kết quả khảo sát các chí báo thông tin cơ bản. Kết quả khảo sát hệ thống cung ứng thuốc. Kết quả khảo sát hội đồng thuốc và điều trị.
Kết quả khảo sát tình hình sử dụng thuốc. Kết quả điều tra hộ gia đình. Kết quả các cuộc thảo luận nhóm. +000 68 CHUONG 4: CAC GIAI PHAP ĐÈ XUẤT.
Đối với hệ thống y tế địa phương 78 4.2, Đối với các cơ sở điều trị. Đối với các cơ sở bán lẻ thuốc.--s--ccsscssecoes 79 PHAN III: KET LUAN VA KIEN NGHỊ. 81 Kiến nghị 82 TAI LIEU THAM KHẢO .- sessetssssssnesnsseesessesssesB3 Báo cáo tổng kết đề tài “Cung ứng và sử dụng thuốc” 1/84 BHYT BS BV CSSDGB CR DK DS DSTH DT DD DDTH KH KS KV Max Min NH NT PKKV sD TS VN WHO NHUNG TU VIET TAT Bao hiém y té ,Bác sĩ Bệnh viện Công suất sử dụng giường bệnh Cam Ranh Diên Khánh Được sĩ Dược sĩ trung học Dược tá Điều dưỡng Điều dưỡng trung học Kế hoạch Khánh Sơn Khánh Vĩnh Tối đa Tối thiểu Ninh Hoà Nha Trang Phòng khám đa khoa khu vực Độ lệch chuân Tổng số Vạn Ninh Tô chức Y tế thế giới Bảng 1 2 10 H 12 13 14 15 16 17 18 MUC LUC BANG Nội dung Tình hình dân số năm 2004 va 2005. Cơ cấu tổ chức các bệnh viện trong tỉnh Khánh Hoà Số ngày điều trị nội trú theo khoa điều trị Đặc điểm sử dụng thuốc trong 14 ngày điều trị nội trú Tình hình sử dụng kháng sinh tại các Bệnh viện Số lượng thuốc được kê trong mỗi đơn thuốc Tình hình ghi nhận cân nặng khi cho đơn thuốc Phân bố đối tượng theo địa phương và giới tính Cơ cấu số thành viên trong gia đình Số thành viên đóng góp thu nhập theo quy mô hộ gia đình Thu nhập hộ gia đình Ti lệ mắc bệnh của bản thân trong tháng qua Lựa chọn đầu tiên khi mắc bệnh phân chia theo khu vực Kết quả điều trị theo nhóm lựa chọn nơi điều trị ban đầu Lựa chọn đầu tiên khi mắc bệnh của bản thân và người thân trong gia đình Kết quả điều trị của bản thân và agười thân trong gia đình ` Lựa chọn tiếp theo khi điều trị ban đầu không khỏi Nhận xét vê đơn thuôc Trang 20 23 29 30 31 33 34 37 38 39 40 40 42 43 44 45 45 20 19 20 21 Hình 1 2 Góp ý về đơn thuốc 5] Cach chen mua khang sinh 51 Nhận xét về đơn thuốc của cơ sở hành nghề y tế tư nhân so với nhà nước 53 MỤC LUC HINH Nội dung Trang :Lựa chọn đầu tiên khi mắc bệnh 42 Tï lệ có Bảo hiểm Y tế 47 PHẢN I MO DAU Báo cáo tổng kết đề tài “Cung ứng và sử dụng thuốc” 2/84 Sức khỏe là quyền cơ bản nhất của con người.
Tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trong đó có việc tiếp cận với thuốc thiết yếu, là điều kiện tiên quyết để xác lập quyền về sức khỏe. Trong khi đó, gánh nặng về y tế đối với các nước đang phát triển đang là vấn đề thách thức mang tính toàn cầu. Trong số các nguyên nhân tạo nên gánh nặng ngân sách y tế tại các nước đang phát triển là tình trạng không tiếp cận được với các thuốc thiết yếu, sử dụng thuốc không hợp lý, không an toàn, không hiệu quả hoặc được cung ứng với giá cao. Ước tính chỉ phí cho chăm sóc sức khỏe tại các gia đình nghèo chiếm khoảng 60 — 90% toàn bộ thu nhập gia đình [2, 10].
Tại các nước đang phát triển, chi phí về thuốc chiếni'khoảng 25% — 65% tổng chi phí cho y tế công lập và tư nhân [10]. Từ năm 1977, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra khái niệm về thuốc thiết yếu (Essential Medicines) và đưa ra danh mục thuốc thiết yếu cho các Quốc gia thành viên làm cơ sở cho những Quốc gia này xây dựng danh mục thuốc thiết yếu cho mình. WHO ước lượng rằng sẽ có khoảng 10 triệu trường hợp tử vong có thể cứu sống mỗi năm nếu có sự cải thiện việc tiếp cận với thuốc thiết yếu và vaccin, trong đó chỉ riêng Châu Phi và Châu Á là 4 triệu trường hợp [2]. Tiếp cận với thuốc thiết yếu bao gồm tính sẵn có (availability), giá cả chấp nhận được (affordability).
Các yếu tố này chịu ảnh hưởng của một số các yếu tố có liên quan như sự lựa chọn và sử dụng thuốc hợp ly, giá cả, hệ thống cung ứng và hệ thống tài chính [8]. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn khoảng 2 tỉ người, chiếm 1⁄3 dân số toàn cầu vẫn không được tiếp cận thường xuyên với thuốc thiết yếu [6]. Những thách thức trong việc cung ứng và sử dụng thuốc thiết yếu hiện nay có thé ké là (a) Giá thuốc cao, (b) sử dụng thuốc không hợp lý, (c) chính sách tài chính y tế chưa công bang, (d) nguồn cung cấp thuốc không đáng tin cậy, (e) vấn đề về chất lượng thuốc, (f) sự lạm dụng thuốc v. Nguyên nhân của tình trạng này là rất phức tạp và không phải chỉ do thiếu nguồn lực về tài chính mà còn do nhiều nguyên nhân quan trọng khác từ nhiều phía: Quan điểm và thái độ của các cơ quan nhà nước, của hệ thống y tế công lập và tư nhân, của đội ngũ thầy thuốc kê đơn, của các nhà sản xuất kinh Báo cáo tổng kết để tài “Cung ứng và sử dụng thuốc” 3/84 doanh phân phối dược phẩm và ngay cả bản thân người bệnh.
Để giải quyết vấn đề nói trên, cần có một chính sách quốc gia về thuốc do chính phủ ban hành. Việc xây dựng chính sách này sẽ phụ thuộc vào việc khảo sát thực trạng cung ứng và sử dụng thuốc của từng địa phương. Nhằm góp phần vào việc xây dựng chính sách quốc gia về thuốc, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu nhằm xác định thực trạng cung ứng và sử dụng thuốc chữa bệnh trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, qua đó đề xuất các giải pháp khả thi. Báo cáo tổng kết đề tài “Cung ứng và sử dụng thuốc” 4/84 _ PHAN II NOI DUNG Báo cáo tổng kết đề tài “Cung ứng và sử dụng thuốc” 5/84 ›.
CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU Cung ứng và sử dụng thuốc đóng vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc sức khỏe. Luật Dược của Việt Nam định nghĩa: Thuốc là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng [22]. Như vậy, thuốc có phạm vi áp dụng rất rộng, không những trong lĩnh vực điều trị mà còn trong lĩnh vực dự phòng, không những trong lĩnh vực sử dụng mà còn trong lĩnh vực cung ứng nguyên liệu và sản xuất. Luật Dược của Việt Nam cũng đã đưa ra các khái niệm về thuốc thiết yếu và thuốc chủ yếu như sau: Thuốc thiết yếu là thuốc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của đại đa số nhân dân, được quy định tại danh mục thuốc thiết yếu do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
ì Thuốc chủ yếu là thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với cơ cấu bệnh tật ở Việt Nam được quy định tại danh mục thuốc chủ yếu sử dụng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. Thuốc, trong khuôn khổ của định nghĩa này, đóng vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Trong đó, các khái niệm về thuốc thiết yếu, thuốc chủ yếu nhắm đến sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe chủ yếu của một cộng đồng nhất định. Do đó, việc xây dựng một chính sách Quốc gia về thuốc dựa trên cơ sở nguồn lực của một nước để đảm bảo khả năng cung ứng đủ thuốc để kiểm soát các bệnh phổ biến nhất, bảo đảm chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Có 4 thành tố quan trọng trong chính sách quốc gia về thuốc. Đó là: - _ Sự lựa chọn thuốc thiết yếu; - _ Có khả năng chỉ trả được (affordibility); Báo cáo tổng kết để tài “Cung ứng và sử dụng thuốc”. Z - Ngan sach va kinh phi mua thudc (Drug financing); - Hé thdéng cung img thudc (Supply system) [12]. Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam đã được chính phủ ban hành tại Nghị quyết 37/CP ngày 20/6/1996 về “định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân trong thời gian 1996 — 2000 và chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam”.
Theo đó, mục tiêu của chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam là nhằm bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân, bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và có hiệu quả [20]. Các mục tiêu cụ thể mà Nghị quyết 37/CP đưa ra là đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng, giá cả phù hợp; thực hiện sự công bằng trong cung ứng thuốc cho người bệnh; ưu tiên thuốc thiết yếu, chú trọng thuốc cỗ truyền; phát triển và hoàn thiện mạng lưới cung ứng thuốc cho cộng đồng, chú trọng những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa [20]. Như vậy, việc nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thuốc thiết yếu và hệ thống cung ứng thuốc đã được Chính phủ đề ra từ năm 1996. Luật Dược đã dành hắn một chương (chương 6) để nói về việc cung ứng thuốc trong cơ sở khám, chữa bệnh.
Theo đó, điều 49 về bảo đảm cung ứng thuốc đã quy định: “Cơ 'sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm bảo đảm cung ứng đủ thuốc có chất lượng trong danh mục thuốc chủ yếu sử dụng trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phục vụ cho nhu cầu cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định danh mục và cơ số thuốc cấp cứu, danh mục thuốc chủ yếu sử dụng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và việc cung ứng thuốc tại cơ sở y tế nhà nước” [22]. Như Vậy, việc quy định xây dựng danh mục thuốc chủ yếu và quy định về việc cung ứng thuốc tại các cơ sở khám, chữa bệnh đã được luật hoá nhằm mục tiêu tạo sự công bằng trong việc tiếp cận với thuốc chữa bệnh. Hệ thống cung ứng thuốc là một thành tố không thể thiếu nhằm đảm bảo một chính sách quốc gia về thuốc.