Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận Việt Nam đang trong quá trình phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế cũng như xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó có sự tác động tiêu cực đến môi trường sống.
Ô nhiễm môi trường có nguyên nhân từ các hoạt động khai thác không hợp lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển không cân đối và thiếu quy hoạch đồng bộ. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhiều thành phần môi trường được sử dụng miễn phí, nhiều thiệt hại đến môi trường không được quan tâm khắc phục. Đứng trước những thách thức đó đòi hỏi phải có biện pháp thích hợp để dung hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Từ đó các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường đã được áp dụng và ngày càng mang lại hiệu quả nhất định.
Trong các biện pháp kinh tế đang được áp dụng trong công tác quản lý môi trường tại Việt Nam hiện nay có thuế bảo vệ môi trường và phí bảo vệ môi trường. Chính sách thu, quản lý và sử dụng thuế, phí liên quan đến tài nguyên, bảo vệ môi trường được coi là công cụ tài chính quan trọng để quản lý việc khai thác và sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường của quốc gia, thể hiện vai trò và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường thông qua việc điều tiết nguồn lực tài chính cho ngân sách, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia. Ngoài ra, chính sách thu, quản lý, sử dụng liên quan đến tài nguyên, môi trường còn là công cụ quan trọng để nhà nước tăng cường công tác quản lý, giám sát hoạt động khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường góp phần thúc đẩy hoạt động khai thác tài nguyên theo hướng tiết kiệm, hiệu quả và bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường sống cho cộng đồng [1]. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005; - Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 ngày 15/11/2010; - Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012.
- Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2012. - Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/6/2012; - Nghị định số 201/2013/N Đ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước; - Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; - Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; - Luật Khai thác khoáng sản số 60/2010/QH12 15/11/2010; - Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 9/2/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Khoáng sản; - Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; - Thông tư số 158/2011/TT-BTC ngày 16/11/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; - Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; n 6 - Thông tư số 39/2008/TT - BTC ngày 19/5/2008 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; - Quyết định số 185/QĐ-UBND ngày 24/01/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành “Đề án bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá giai đoạn 2007 - 2010 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”; - Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về môi trường do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Các công cụ kinh tế trong Quản lý môi trường 1.1 Khái niệm các công cụ kinh tế Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường [3]. Để quản lý môi trường tốt hơn, ngoài các công cụ kinh tế người ta sử dụng song song, bổ trợ nhiều công cụ quản lý khác nhau như công cụ pháp lý, hành chính; công cụ giáo dục, truyền thông… Trong những thập kỷ gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và tự do hóa thương mại, công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các nước, đặc biệt là các nước phát triển [3].
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có hai đặc trưng cơ bản sau: - Thứ nhất: Công cụ kinh tế hoạt động thông qua cơ chế giá cả trên thị trường, chúng có chức năng nâng giá cả các hành động làm tổn hại đến môi trường, lên hoặc hạ giá các hành động bảo vệ môi trường xuống. - Thứ hai: Công cụ kinh tế sẽ tạo ra khả năng lựa chọn cho các tổ chức cá nhân hành động vừa đặt được mục tiêu kinh tế vừa đáp ứng yêu cẩu bảo vệ môi trường, phù hợp với năng lực của mình [3]. Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Thuế tài nguyên Pháp lệnh Thuế tài nguyên ra đời ngày 30/3/1990 và được sửa đổi năm 1998. Ngày 25/11/2009, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế tài nguyên.
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất. Mục đích của thuế tài nguyên là: - Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên. - Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng - Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hòa quyền lợi của các tầng lớp dân cư về việc sử dụng tài nguyên [16]. Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như: thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản.
Đối tượng nộp thuế: là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế quốc doanh, không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác, hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm lưu động hay cố định, có khai thác sử dụng tài nguyên lòng đất, mặt đất, mặt nước [18]. Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để đảm bảo có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là: Hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn. Việc xác định đúng đắn phương pháp tính thuế tài nguyên là rất quan trọng, sẽ góp phần thúc đầy các doanh nghiệp đầu tư công nghệ, kỹ thuật và năng lực quản lý nhằm làm giảm tổn thất tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo [1]. n 8 Trong thực tế, người ta thường phân biệt thuế tài nguyên theo mức độ xác định trữ lượng: - Tài nguyên đã xác định trữ lượng: thuế được tính dựa trên trữ lượng địa chất (hoặc trữ lượng công nghiệp) của loại tài nguyên mà doanh nghiệp được phép khai thác.
- Tài nguyên chưa xác định được trữ lượng hoặc xác định chưa chính xác: có thể sử dụng sản lượng khai thác làm cơ sở tính thuế trong khi chờ có thăm dò địa chất về trữ lượng bổ sung. Thuế/phí bảo vệ môi trường Thuế môi trường (Environmental Tax) là một công cụ kinh tế để giải quyết các vấn đề môi trường. Đây là khoản thu cho ngân sách nhà nước từ những đối tượng gây ô nhiễm, làm thiệt hại cho môi trường. Nó góp phần hạn chế, giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường.
Thuế môi trường được thiết kế để nội hóa chi phí môi trường và tạo ra động lực kinh tế cho cá nhân, tổ chức thúc đẩy các hoạt động sinh thái bền vững [6]. Thuế môi trường thông thường đánh chủ yếu vào các chất gây ô nhiễm môi trường hay các sản phẩm hàng hóa mà việc sản xuất, sử dụng chúng có tác động tiêu cực đến môi trường, gây ô nhiễm môi trường như: thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm (thuế Sunfua, thuế CFCs, thuế CO2…) và thuế đánh vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường (thuế xăng, dầu, than, thuốc bảo vệ thực vật…). Phí môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước dành cho hoạt động bảo vệ môi trường như để thu gom và xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm môi trường. Mục đích chính của việc thu phí môi trường là hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải ra môi trường, mà các chất thải này có khả năng xử lý được.
Phí môi trường buộc những người gây ô nhiễm môi trường phải xử lý các chất thải trước khi n 9 thải ra môi trường hay hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây ra ô nhiễm. Vì vậy công cụ này khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, những người gây ô nhiễm phải xử lý các chất ô nhiễm trong nguồn thải trước khi thải ra môi trường. Phí môi trường được tính toán dựa trên lượng phát thải của chất ô nhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm.