CHƯƠNG 1. Tính cấp thiết của đề tài Kon Tum là một tỉnh miền núi của vùng Tây Nguyên- vùng được đánh giá có tiềm năng phát triển nông nghiệp của cả nước. Kon Tum có điều kiện đất đai, thổ nhưỡng và khí hậu thuận lợi cho sự phát triển cây công nghiệp nói chung và cây công nghiệp lâu năm nói riêng. Những năm gần đây, cây công nghiệp lâu năm đã phát triển nhanh chóng và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Tỉ trọng của cây công nghiệp lâu năm trong giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh tăng từ 40,11% (2005) đến 59,81% (2013); bình quân giai đoạn 2005- 2013, giá trị sản xuất cây công nghiệp lâu năm tăng 2,19%/năm (Cục Thống kê tỉnh Kon Tum, 2013). Các loại cây công nghiệp lâu năm trên địa bàn tỉnh chủ yếu là cây cao su, cà phê, tiêu, điều đang được phát triển với nhiều loại hình: kinh tế nông lâm trường, kinh tế hộ gia đình, kinh tế vườn đồi, kinh tế trang trại. Kon Tum có các vùng chuyên canh cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như vùng chuyên canh sản xuất cà phê tại huyện Đăk Hà, vùng chuyên canh cao su tập trung ở KLTN thành phố Kon Tum, huyện Thông Sa Thầy, Đăk Hà, tin Ngọcđịa lý vùng chuyên canh cây công Hồi. Các nghiệp đã góp phần phân bố sức sản xuất hợp lí và hiệu quả hơn; tạo điều kiện thuận lợi cho điều chỉnh quy hoạch, bố trí phát triển ngành công nghiệp chế biến.
Theo quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội tỉnh Kon Tum đến năm 2020 của UBND tỉnh, cơ cấu cây trồng trong nội bộ ngành trồng trọt chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của nhóm ngành cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, mía và cây ăn quả nhằm đáp ứng cho công nghiệp chế biến. Dự kiến đến năm 2020, diện tích cao su và cà phê của tỉnh lần lượt đạt trên 70. Bên cạnh đó, các loại cây này còn góp phần phủ xanh đồi trọc, cải thiện môi trường, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, giải quyết công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo và thay đổi tập quán canh tác của người dân, đặc biệt là đối với vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa rất quan trọng cho các ngành, các lĩnh vực hoạt động trong xã hội: định hướng sử dụng đất đai, chỉ rõ các địa điểm phát triển, giúp cho các ngành yên tâm trong đầu tư phát triển.
Đánh giá đất đai là nền tảng của quy hoạch sử 1 dụng đất trong tương lai, bao gồm các yếu tố về tự nhiên và kinh tế- xã hội nhằm mục tiêu cung cấp thông tin về sự thuận lợi, khó khăn trong việc sử dụng đất đai, làm cơ sở cho việc ra quyết định đối với các nhà quản lí đất đai, đặc biệt là trong vấn đề quy hoạch sử dụng đất. Vì vậy, để khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đáp ứng được nhu cầu thực tế trong sử dụng đất đai kèm theo sự phát triển của xã hội, hạn chế sự suy thoái về đất đai trong tỉnh Kon Tum thì việc đánh giá đất đai, xây dựng các chất lượng đất đai, đồng thời đánh giá được khả năng thích nghi của một số cơ cấu cây trồng (cây công nghiệp lâu năm) là rất cần thiết cho sự phát triển nền nông nghiệp của tỉnh. Mặt khác, để mở rộng diện tích đất trồng cây công nghiệp lâu năm đã được đề ra trong quy hoạch tổng thể kinh tế- xã hội đến 2020 của tỉnh Kon Tum, thì việc tiến hành đánh giá thích nghi đất đai về mặt tự nhiên đối với các loại cây công nghiệp lâu năm là rất cần thiết. Xuất phát từ các lí do trên, đề tài “Đánh giá thích nghi đất đai của nhóm cây công nghiệp lâu năm tại tỉnh Kon Tum” đã được thực hiện với mục đích xác định được các vùng thích nghi, mức độ thích nghi của từng loại cây công nghiệp lâu năm về mặt tự nhiên, từ đó đưa ra định hướng quy hoạch chung cho nhóm cây công nghiệp lâu năm tại KLTN tỉnh Kon Tum trong tương lai.
Thông tin địa lý 1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung của đề tài nhằm đánh giá thích nghi đất đai tự nhiên đối với nhóm cây công nghiệp lâu năm tại tỉnh Kon Tum, bao gồm các mục tiêu cụ thể sau: Thành lập bản đồ thích nghi đất đai đối với từng loại cây công nghiệp lâu năm. Đánh giá thực trạng gieo trồng nhóm cây công nghiệp lâu năm theo mức thích nghi tự nhiên. Đề xuất các biện pháp cải tạo đất đai nhằm cải thiện khả năng thích nghi cho nhóm cây công nghiệp lâu năm trong tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Nhóm cây công nghiệp lâu năm gồm 4 loại cây là cao su, cà phê, tiêu, điều. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu thuộc địa bàn tỉnh Kon Tum. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về nhóm cây công nghiệp lâu năm 2.
Cây cà phê (Nguyễn Minh Tuệ và Lê Thông, 2013) Về đất đai, do rễ cà phê háo khí nên đất trồng phải thoáng khí, tầng đất dày, độ tơi xốp cao, thoát nước nhanh. Cà phê ưa đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng, nhất là vùng đất đỏ đá vôi và đất đỏ bazan. Đất bazan được coi là loại đất lí tưởng thường chứa hàm lượng các nguyên tố vi lượng như Bo, Fe, Zn, Cu rất cần thiết để cà phê đạt chất lượng cao. Về địa hình, đây là yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khí hậu.
Địa hình chi phối chế độ nhiệt, ẩm độ không khí, cường độ chiếu sáng. Cà phê chè là cây ưa điều kiện khí hậu mát mẻ, cường độ ánh sáng vừa phải nên thích hợp trồng ở những vùng có độ cao từ 800- 2.000m so với mặt nước biển. Khi được trồng ở độ cao càng lớn chất lượng cà phê chè càng tốt. Trong khi đó, cà phê vối và cà phê mít ưa khí hậu nóng ẩm, ánh sáng dồi dào nên thích hợp ở những vùng có độ cao nhỏ dưới 800m.
Đối với nhiệt độ, cà phê là cây nhiệt đới rất ưa nhiệt, sống, sinh trưởng và phát triển KLTN ở nhiệt độ từ 5- 35°C. Song phạmThông tintừng vi nhiệt độ của địa lýlà khác nhau: giống - Cà phê chè ưa khí hậu mát mẻ, phát triển trong khoảng nhiệt độ 5- 32°C, nhưng thích hợp nhất là từ 15- 24°C. Nếu nhiệt độ trên 25°C thì quá trình quang hợp giảm dần, trên 30°C cây ngưng quang hợp. Cà phê chè là loại có khả năng chịu lạnh tốt nhất, nhưng khi nhiệt độ xuống dưới 5°C, cây bắt đầu ngừng sinh trưởng.
- Cà phê vối cần nhiệt độ cao hơn, khoảng thích hợp là 24- 30°C, thích hợp nhất từ 24- 26°C. Khả năng chịu lạnh kém hơn, nên ở nhiệt độ dưới 7°C, cây đã ngừng sinh trưởng và bắt đầu bị thiệt hại. - Cà phê mít chịu rét và nóng khá hơn 2 loại trên, phù hợp với nhiệt độ từ 16- 26°C. Đối với lượng mưa và độ ẩm, nhìn chung cây cà phê cần một lượng mưa tương đối lớn, phân bố đều cả năm, từ 1.
Tuy nhiên, cũng cần 1 thời kì khô hạn khoảng 2- 3 tháng vào cuối và sau vụ thu hoạch để thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa. Bên cạnh đó, ẩm độ không khí phải trên 70% mới thuận lợi cho việc phát triển và sinh trưởng của cây cà phê (khoảng thích hợp là từ 70- 85%). 3 Về ánh sáng, cà phê chè là loại cây thích ánh sáng tán xạ, giúp cây quang hợp tốt hơn. Còn cà phê vối và mít là cây thích ánh sáng trực xạ yếu.
Cây cao su (Nguyễn Minh Tuệ và Lê Thông, 2013) Đối với đất đai, cây cao su phát triển tốt nhất trên đất đỏ bazan, loại đất có tầng phong hóa sâu, giàu chất dinh dưỡng. Ngoài ra, loại đất xám phù sa cổ tuy nghèo dinh dưỡng hơn nhưng thoát nước tốt cũng thích hợp cho loại cây này phát triển. Đối với nhiệt độ, cao su là cây trồng nhiệt đới điển hình, có biên độ nhiệt nhỏ và sợ rét, sinh trưởng bình thường ở nhiệt độ 22- 27°C, nhiệt độ thích hợp là 26- 28°C. Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và khai thác mủ của cây.
Nhiệt độ dưới 18°C ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt, tốc độ sinh trưởng của cây chậm lại; dưới 10°C thì hạt không nảy mầm, ảnh hưởng xấu đến trao đổi chất trong cây. Nếu dưới 5°C thì vỏ thân bị nứt, mủ không đông, có thể bị khô ngọn. Về lượng mưa và độ ẩm, cây cao su thường được trồng ở những vùng có lượng mưa từ 1.500 mm/năm, số ngày mưa thích hợp trong năm là 100- 150 ngày. Cây cao su cần nước nhưng không chịu được úng nước và gió.
Cao su có thể chịu hạn 4- 5 tháng tuy KLTN nhiên, sản lượng mủ trong nhữngThông tháng này sẽtin địaĐộlýẩm không khí bình quân thích bị giảm. hợp cho sinh trưởng của cây cao su là trên 75%. Đối với ánh sáng, cao su là cây ưa sáng, thời gian và cường độ chiếu sáng trong ngày càng lớn thì việc sinh tổng hợp được càng nhiều. Số giờ chiếu sáng trong năm được gọi là tốt cho cao su bình quân từ 1.
Đối với gió, cây cao su không ưa gió, gió lớn gây đổ ngã, đứt rễ. Tốc độ gió thích hợp cho cây cao su là 2- 3 m/s. Cây điều (Nguyễn Minh Tuệ và Lê Thông, 2013) Đối với đất đai, điều có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau như đất cát, đất thịt hay đất có tầng canh tác mỏng trên đất dốc. Điều rất hợp trồng ở những vùng đất giàu chất dinh dưỡng, có hàm lượng hữu cơ cao và thoát nước tốt, không thích hợp ở những vùng đất úng hay đất bị nhiễm mặn.
Có thể sinh trưởng tốt ở những vùng đất bạc màu nhờ hệ thống rễ ăn sâu. Những nơi có mực nước ngầm sâu từ 3 đến 6 m, những nơi đất dốc, độ pH từ 5- 6,5 rất thích hợp để trồng điều tuy nhiên, độ dốc không quá 20°. Nếu trồng điều trên đất thấp cần có hệ thống thoát nước hợp lý. 4 Đối với nhiệt độ, cây điều có nguồn gốc nhiệt đới nên thích hợp trồng ở những nơi có nhiệt độ cao quanh năm, từ 24- 28°C.
Nếu gặp phải nhiệt độ dưới 18°C trong thời gian dài thì cây sẽ phát triển chậm lại, khi nhiệt độ xuống dưới 5°C hoặc trên 45°C thì cây sẽ ngừng sinh trưởng.