CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ BALANCED SCORECARD (BSC). Tổng quan về Balanced Scorecard 1. Sơ lược lịch sử hình thành: Phương pháp Balanced Scorecard đã manh nha xuất hiện từ những năm 1950 với sự tiên phong trong quản lí của một kỹ sư người Pháp thuộc General Electric- tác giả của Tableau de Bord, theo nghĩa đen, có thể hiểu là bảng thông tin của phương pháp đánh giá hiệu quả”.Về sau, nó được xây dựng hoàn chỉnh bởi Robert Kaplan-giáo sư chuyên ngành kế toán thuộc Đại học Hardvard và David Norton- một chuyên gia tư vấn ở Boston. Norton đã tiến hành một công trình nghiên cứu trên 12 công ty nhằm khảo sát các phương pháp mới trong đo lường và quản lý hiệu suất.
Công trình này bắt nguồn từ niềm tin ngày càng lớn rằng hệ thống các thước đo tài chính trong quá tr nh đo lường và quản lý hiệu suất đã không còn hiệu quả cho các doanh nghiệp hoạt động trong thời đại thông tin bùng nổ. Nhóm nghiên cứu cho rằng sự phụ thuộc vào các thước đo tài chính đã ảnh hưởng đáng kể đến việc nâng cao giá trị của công ty. Sau nhiều cuộc thảo luận, nhóm nghiên cứu đã đề xuất ra một công cụ mới- Balanced Scorecard. Công cụ này đề cao các thước đo hiệu suất, nắm bắt được các hoạt động xuyên suốt tổ chức, các vấn đề xuất phát từ các khía cạnh: khách hàng, quy trình kinh doanh nội bộ, hoạt động của nhân viên và sự quan tâm của các cổ đông.
Sau 4 năm được áp dụng, Balanced Scorecard đã cho thấy tính ưu việc tức thời. Kaplan và Norton đã phát hiện ra rằng, những doanh nghiệp này không chỉ sử dụng công cụ Balanced Scorecard để bổ sung cho các thước đo tài chính với những yếu tố định hướng nhằm nâng cao hiệu suất trong tương lai mà còn truyền đạt chiến lược tới toàn bộ tổ chức thông qua những thước đo được các nhà quản trị chọn lựa. Đến khi Balanced Scorecard đã chứng minh được sự hiệu quả và nhận được nhiều sự quan tâm từ các doanh nghiệp như một công cụ chủ chốt trong việc thực thi chiến lược, Kaplan và Norton đã tổng kết công trình nghiên cứu, và truyền đạt những khái niệm về Balanced Scorecard trong cuốn: The Balanced Scorecard - Harvard Business School Press năm 1996. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Kể từ đó, Balanced Scorecard đã được hơn 500 doanh nghiệp trong danh sách Fortune 1000 ứng dụng.
Quá trình ứng dụng của Balanced Scorecard không ngừng phát triển khi các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều thấy được sự hiệu quả của công cụ này. Với những ưu điểm vượt trội, Balanced Scorecard được sử dụng rộng rãi không những trong những doanh nghiệp mà còn phổ biến trong các tổ chức phi lợi nhuận, đơn vị hành chính sự nghiệp. Vì vậy, Balanced Scorecard đã được tạp chí Hardvard Business Review đánh giá là một trong 5 ý tưởng có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20 (Đặng Thị Hương-Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh số 26 năm 2010, trang 9 ). Sự cần thiết của BSC: Để có một cơ sở vững chắc và rõ ràng hơn trong quá tr nh t m hiểu nội dung, bản chất của BSC, tác giả xin phân tích rõ hơn sự cần thiết của phương pháp BSC trong đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tác giả xin được giải thích vấn đề thông qua ba khía cạnh: Bối cảnh thời đại thông tin và sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới. Sự hạn chế của phương pháp đánh giá bằng thước đo tài chính. Những yêu cầu đối với hệ thống đánh giá mới. Bối cảnh thời đại thông tin và sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thế giới.
Trở lại những năm 1 50-1975, khi thế giới đang trong kỉ nguyên công nghiệp, mức độ thành công của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng có thể nắm bắt được lợi ích kinh tế theo quy mô và phạm vi tốt đến đâu. Công nghệ cũng rất được coi trọng nhưng chỉ thực sự mang lại thành công cho những doanh nghiệp biết cách đưa những tiến bộ mới về công nghệ vào những dây chuyền sử dụng cho sản xuất hàng loạt. Ảnh hưởng của kỉ nguyên thông tin thậm chí còn rõ rệt hơn trong các ngành dịch vụ. Có rất nhiều tổ chức tham gia cung ứng dịch vụ, nhất là trong lĩnh vực vận tải, thông tin liên lạc, tài chính, chăm sóc sức khỏe…đã tồn tại hàng thập kỉ trong một môi trường phi cạnh tranh.
Tuy bị hạn chế trong việc tham gia các ngành nghề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 kinh doanh khác, hay định giá sản phẩm cung cấp. Nhưng đổi lại, họ có được sự bảo hộ của nhà nước khỏi những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, những chính sách về định giá đem lại cho họ một nguồn doanh thu đảm bảo dựa trên đầu tư và chí phí cơ bản. Song, hai thập kỉ cuối của thế kỉ 20 đã chứng kiến sự đổi thay mạnh mẽ trong quá trình xóa bỏ nhưng ưu đãi, bảo hộ; tiến hành tư nhân hóa trên toàn thế giới. Môi trường cạnh tranh trong kỉ nguyên thông tin đặt ra những yêu cầu mới về năng lực cạnh tranh cho cả những nhà sản xuất và các công ty cung cấp dịch vụ để có thể đạt được thành công.
Khả năng của doanh nghiệp trong việc cơ động hóa và khai thác nguồn tài sản vô hình trở nên quan trọng hơn nhiều so với việc đầu tư và quản lí những tài sản cố định hữu hình. Thế giới đã và đang chứng kiến sự chuyển dịch không ngừng từ việc tạo ra giá trị từ tài sản hữu hình sang những quy trình chủ yếu dựa trên tài sản vô hình. Bảng sau sẽ mô tả cụ thể hơn vấn đề: Bảng 1.1: Sự chuyển đổi quy trình tạo giá trị từ tài sản hữu hình sang tài sản vô hình: 1982 1992 Ngày nay 75% 62% 38% Nguồn: Pual R.Niven Balanced Scorecard Step by Step, trang 8. Nguồn vốn này giúp doanh nghiệp có thể: - Phát triển mối quan hệ với khách hàng.
Để từ đó, không những giữ vững sự trung thành của những khách hàng hiện tại mà còn thu hút được những khách hàng mới từ nhiều phân khúc thị trường khác nhau. - Đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mang tính cách mạng để phục vụ cho thị trường mục tiêu. - Tạo ra những sản phẩm, dịch vụ được định hình bởi ý kiến khách hàng với chất lượng cao, giá thấp và thời gian giao hàng nhanh chóng. - Cơ động hóa kĩ năng và động lực cho quá trình cải tiến liên tục về phẩm chất, công dụng của sản phẩm và thời gian đáp ứng.
- Triển khai công nghệ thông tin, hệ thống quản lí cơ sở dữ liệu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Kỉ nguyên thông tin đã định hình nên những giả thiết cơ sở cho sự hình thành và tồn tại của các tổ chức. - Kĩ năng đa dạng: Những doanh nghiệp trong thời đại công nghiệp có được lợi thế cạnh tranh nhờ vào sự chuyên môn hóa về kĩ năng: sản xuất, thu mua, phân phối, marketing và kỹ thuật. Sự chuyên môn hóa này đã đem lại những lợi ích đáng kể, nhưng theo thời gian, việc chuyên môn hóa đến quá mức đã dẫn đến sự không hiệu quả vì nó khiến các bộ phận trong doanh nghiệp liên kết với nhau một cách rời rạc và thời gian đáp ứng của doanh nghiệp với các nhu cầu mới trở nên chậm chạp.
Trong khi đó những doanh nghiệp trong thời đại thông tin vận hành với quy trình kinh doanh hợp nhất để kết hợp những lợi ích của chuyên môn hóa với tốc độ, sự hiệu quả và chất lượng của quy trình kinh doanh hợp nhất. - Kết nối chuỗi giá trị: Trong kỉ nguyên công nghiệp, quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng và nhà cung cấp chủ yếu thông qua các giao dịch trực tiếp, nhưng ngày nay, kỉ nguyên thông tin đã giúp cho những doanh nghiệp có khả năng hợp nhất những quy trình cung cấp đầu vào, sản xuất và giao hàng. Điều này được khởi phát từ những đơn hàng của khách hàng chứ không bắt nguồn từ những kế hoạch sản xuất. Những hệ thống hợp nhất, từ đơn đặt hàng của khách hàng quay ngược về nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào, đã cho phép từng bộ phận xuyên suốt chuỗi giá trị của doanh nghiệp đạt được nhiều sự cải thiện đáng kể trong chi phí, chất lượng sản phẩm và thời gian đáp ứng.
- Phân khúc khách hàng: Những doanh nghiệp thời đại công nghiệp phát triển nhờ vào việc cung cấp những hàng hóa, dịch vụ được chuẩn hóa với giá thấp. Tuy nhiên, khi khách hàng đã thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về ăn mặc, nơi ở, thức ăn và di chuyển…họ muốn có được nhiều hơn nữa những dịch vụ cho cá nhân, đáp ứng nhu cầu của riêng họ. Những doanh nghiệp trong kỉ nguyên thông tin phải nắm bắt được điều này, thông qua đó, đưa ra những hàng hóa, dịch vụ được thiết kế để có thể thay đổi linh hoạt nhằm đáp ứng được nhu cầu đa dạng của nhiều phân khúc thị trường khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhau mà không phải trả những chi phí cho sự đa dạng trong chủng loại sản phẩm và việc vận hành với năng suất thấp. - Quy mô toàn cầu: Ngày nay, ranh giới quốc gia không còn là rào cản đối với những công ty nước ngoài có khả năng cạnh tranh và nguồn lực dồi dào.
Các doanh nghiệp không ngừng cạnh tranh nhau trên khắp thế giới. Những khoản đầu tư lớn dành cho một vài sản phẩm, dịch vụ mới đòi hỏi lượng khách hàng đông đảo-có thể trên phạm vi toàn cầu, để có thể đảm bảo doanh thu. Các công ty trong thời đại thông tin phải biết kết hợp giữa sự hiệu quả và khả năng cạnh tranh sắc bén của hoạt động toàn cầu với việc tăng cường marketing ở thị trường địa phương. - Vòng đời sản phẩm: Vòng đời của các sản phẩm đang ngày càng rút ngắn, vì vậy lợi thế cạnh tranh của một thế hệ sản phẩm không thể đảm bảo cho sự dẫn đầu của nó trong những thế hệ tiếp theo.
Các công ty cạnh tranh trong ngành với những cải tiến công nghệ nhanh chóng cần phải dự đoán được nhu cầu tương lai của khách hàng, đưa ra những sản phẩm, dịch vụ mới và triển khai những tiến bộ khoa học kĩ thuật để tăng sự hiệu quả của quy trình sản xuất và dịch vụ giao hàng.