mở đầu và kết luận. Tæng quan vÒ vÊn ®Ò nghiªn cøu 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cư và kinh tế 1. Vị trí địa lý Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố Hà Nội.
Tỉnh Bắc Ninh có tọa độ địa lý là từ 20°58' đến 21°16' vĩ độ Bắc và 105°54' đến 106°19' kinh độ Đông. Ranh giới địa chính tỉnh Bắc Ninh xác định như sau: phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội, phía Đông và Đông - Nam giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây giáp thành phố Hà Nội. Sơ đồ vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh Tỉnh Bắc Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội: - Có các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ QL1A, QL18, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn, đường thuỷ sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình. nên rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và hành khách lưu thông với các 9 z tỉnh trong cả nước, đặc biệt nhất là việc trở thành cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi phía bắc và có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc.
- Nằm gần thủ đô Hà Nội, một thị trường rộng lớn tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh như nông - lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dựng, hàng thủ công mỹ nghệ.,, đồng thời cũng là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước. - Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,Hưng Yên sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ du lịch; Vị trí địa lý thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong các tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc điểm địa hình địa mạo Bắc Ninh là tỉnh nằm ở ranh giới giữa đồng bằng Bắc Bộ và vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, được bao bọc bởi hệ thống sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Địa hình Bắc Ninh tương đối bằng phẳng, đồng bằng chiếm 96,3% tổng diện tích, độ cao tuyệt đối 37m, thấp dần về phía Đông, Đông Nam, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Cầu, Sông Đuống và sông Thái Bình, tạo nên các vùng trũng ở các huyện Gia Bình và Lương Tài.
Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn. Địa hình trung du đồi núi chiếm khoảng 3,7% diện tích toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở Tiên Sơn và Quế Võ. Các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 70- 200m, trong đó 171m núi Bàn Cờ thuộc thành phố Bắc Ninh, núi Bu thuộc Quế Võ cao 153m, núi Phật Tích thuộc huyện Tiên Du cao 84m, núi Thiên Thai thuộc huyện Gia Bình cao 71m. Đặc điểm khí hậu Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh.
Nhiệt độ trung bình năm 23,3°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,9oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8°C (tháng 1), chênh lệch nhiệt độ giữa các 10 z tháng cao nhất và thấp nhất là 13,1°C. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.776 giờ, trong đó tháng 7 có nhiều giờ nắng, tháng 1 có ít giờ nắng nhất. Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông-Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào.
Nhìn chung Bắc Ninh có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày cho giá trị cao và xuất khẩu. Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích. Tài nguyên nước mưa Lượng mưa trung bình hàng năm tại Bắc Ninh là gần 1500mm.
Mưa phân bố không đều trong năm. Mùa mưa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm, còn lại là mùa khô. Khu vực có lượng mưa trung bình lớn nhất là Từ Sơn, Yên Phong, Tiên Du, huyện Quế Võ có lượng mưa trung bình nhỏ nhất, khoảng 1200mm/năm. Đặc điểm dân cư Theo số liệu thống kê năm 2012, dân số toàn tỉnh Bắc Ninh là 1.900 người, trong đó dân cư nông thôn khoảng 74,1%, dân số thành thị khoảng 25,9%.
Cơ cấu dân số của tỉnh chuyển dịch theo xu hướng tăng dân số thành thị và giảm dần dân số nông thôn. Tốc độ đô thị hóa của Bắc Ninh diễn ra nhanh, năm 2006 dân số sống ở khu vực thành thị 136.327 người thì đến năm 2010 đó là 268.504 người; trong khi ở khu vực nông thôn lại giảm từ 863.503 người năm 2006 xuống còn 769. Tổng lao động năm 2012 có 563. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 45% so với tổng số lao động, tỷ lệ thất nghiệp thành thị 2,89% so với tổng số lao động, giải quyết việc làm cho người lao động bằng nhiều hình thức khác nhau; 11 z Trong năm 2010 đó giải quyết việc làm cho 22.100 lao động, thu nhập bình quân người/năm là 20,40 triệu đồng.
Thực trạng phát triển kinh tế xã hội Kết quả phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 1997-2011 thể hiện như sau: Tốc độ tăng trưởng GDP (giá so sánh 1994) bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 đạt 15,3%; Xét theo quy mô cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản từ 21,3% giảm xuống còn 10,5%, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 49,50 % năm 2006, lên 66,10% năm 2010, khu vực dịch vụ từ 29,2% năm 2006 giảm xuống còn 23,40% năm 2010. Năm 2012, tổng sản phẩm toàn tỉnh GDP (theo giá hiện hành) đạt 35.963 tỷ đồng, bình quân 1.906 USD/người. GDP theo thời giá 1994 là 9.697,3 tỷ đồng, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 5.272 tỷ đồng, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt 1.264 tỷ đồng, dịch vụ đạt 3. Giá trị tổng sản phẩm của tỉnh Bắc Ninh phân theo khu vực kinh tế (giai đoạn 1997-2011) Đơn vị Năm Chỉ tiêu tính 1997 2000 2005 2010 2011 1.
Tổng sản phẩm theo giá so sánh 1994 Tỷ đồng 1.008,3 + Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản Tỷ đồng 762,6 937,4 1.277,1 + Công nghiệp - XDCB Tỷ đồng 417,8 885,9 2.336,9 + Dịch vụ Tỷ đồng 526,8 665,0 1. Tổng sản phẩm theo giá thực tế Tỷ đồng 2.533,9 + Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản Tỷ đồng 909,8 1.991,6 + Công nghiệp - XDCB Tỷ đồng 480,3 1.593,5 + Dịch vụ Tỷ đồng 629,6 887,9 2. Cơ cấu (%) % 100 100 100 100 100 + Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản % 44,95 37,96 26,26 10,61 7,75 + Công nghiệp - XDCB % 23,77 35,57 45,92 68,39 74,89 + Dịch vụ % 31,18 26,37 27,82 21,00 17,36 12 z Đơn vị Năm Chỉ tiêu tính 1997 2000 2005 2010 2011 4. GDP bình quân đầu người Nghìn 2.602 (Giá hiện hành) đồng Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011 tỉnh Bắc Ninh a.
Trên địa bàn toàn tỉnh đã có 10 khu công nghiệp tập trung; hơn 18 khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề với hàng trăm nhà máy có công nghệ sản xuất hiện đại đã và đang hoạt động. Tốc độ tăng trưởng bình quân với giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2002- 2012 là 42,76%/năm, đặc biệt khu vực có vố đầu tư nước ngoài tăng vọt từ 0,34 tỷ đồng năm 1997 lên 5505,4 tỷ đồng năm 2012. Sản phẩm của ngành công nghiệp không chỉ phục vụ nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước mà còn tham gia vào thị trường xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ tiếp tục đầu tư và phát triển. Ngành tiểu thủ công nghiệp rất phát triển với nhiều làng nghề truyền thống như là đồ gỗ mỹ nghệ, đúc đồng.
Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh có những chuyển dịch tích cực về cơ cấu: Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 67,2% năm 2002 xuống 33,11% năm 2012, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng từ 29,4% năm 2002 lên 41% năm 2012 và phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa từng bước gắn với thị trường, nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Trong ngành trồng trọt đang hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung như vùng chuyên canh rau sạch, vùng trồng hoa cây cảnh, vùng trồng lúa chất lượng cao. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã làm tăng đáng kể cả về năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm, nhưng lúa vẫn là cây trồng chính của tỉnh. Chăn nuôi dần chuyển sang phương thức chăn nuôi bán công nghiệp đã làm nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi trong tỉnh, tăng từ 338,5 tỷ đồng năm 2002 lên 791,3 tỷ đông năm 2012.
Giao thông 13 z Tỉnh Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi về giao thông vận tải. Mạng lưới giao thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ đã được hình thành từ lâu, các tuyến đường huyết mạch như Quốc lộ 1, quốc lộ 18, quốc lộ 38 và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn. đã được Nhà nước đầu tư mạnh. Hệ thống đường nội tỉnh được nâng cấp và xây dựng mới, đã góp phần tích cực vào việc mở rộng thông thương, khai thác tiềm năng của tỉnh, rút ngắn “khoảng cách” giữa Bắc Ninh với các tỉnh trong vùng, giữa thành thị và nông thôn.
Tính đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 375 km đường quốc lội trải nhựa. 290 km đường tỉnh lộ phần lớn được trải nhựa và hơn 3000 km đường huyện, đường xã, đường thôn xóm trong đó có gần 2000km được trải bê tông và lát gạch. Thương mại và du lịch, dịch vụ Hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh có những chuyển biến sâu sắc: Tăng nhanh về qui mô và mở rộng về thị trường, chuyển dịch tích cực về cơ cấu các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhóm mặt hàng, phương thức kinh doanh. Năm 1997 giá trị sản xuất của ngành đạt 139,8 tỷ đồng đến năm 2007 là 663,8 tỷ đồng.