CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tài chính doanh nghiệp và quản trị tài chính doanh nghiệp 1. Tài chính doanh nghiệp và các quyết định tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp Theo điều 4 luật DN năm 2014 quy định: “ DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Xét về mặt bản chất, tài chính DN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của DN.
Xét về mặt hình thức, tài chính DN là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của DN. Bên trong quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của DN là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị hợp thành các quan hệ tài chính của DN và bao hàm các quan hệ tài chính chủ yếu sau: - Quan hệ tài chính giữa DN với Nhà nước: Quan hệ này được thực hiện chủ yếu ở chỗ mỗi DN thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí vào ngân sách…Đối với DN nhà nước còn thể hiện ở việc: Nhà nước đầu tư vốn ban đầu và bổ sung cho DN bằng cách thức khác nhau. - Quan hệ tài chính giữa DN với các chủ thể kinh tế và các tổ chức kinh tế xã hội khác: Quan hệ tài chính giữa DN với các chủ thể kinh tế khác là mối quan hệ rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán, thưởng phạt vật chất khi DN và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nhau Sv: Lô Thị Kim Ngân 4 Lớp: CQ50/11.11 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính Ngoài quan hệ với các chủ thể kinh tế khác DN có thể còn có quan hệ tài chính với các tổ chức xã hội khác như DN thực hiện tài trợ cho các tổ chức xã hội… - Quan hệ tài chính giữa DN với người lao động trong DN: Quan hệ này được thể hiện trong việc DN thanh toán tiền công, thực hiện thưởng phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào HĐKD của DN… - Quan hệ tài chính giữa DN với các chủ sở hữu của DN: Mối quan hệ này thể hiện trong việc đầu tư, góp vốn hay rút vốn của chủ sở hữu đối với DN và trong việc phân chia LNST của DN. - Quan hệ tài chính trong nội bộ DN: Đây là quan hệ thanh toán giữa các bộ phận nội bộ DN trong HĐKD, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của DN.
Có thể thấy rằng, hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của DN nhằm đạt tới các mục tiêu của DN đề ra. Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của DN. Các quyết định tài chính doanh nghiệp Mặc dù chưa hoàn toàn thống nhất trong khái niệm tài chính DN vê mặt ngôn từ; tuy nhiên, có sự đồng thuận khí các quan niệm khác hau về taiif chính doanh nghiệp đều cho rằng: TCDN thức chất là quan tâm nghiên cứu ba quyết định chủ yếu, đó là quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn và quyết định phân phối lợi nhuận. Quyết định đầu tư: Là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (TSCĐ và TSLĐ).
Quyết định đầu tư ảnh hưởng đến bên trái (phần tài sản) của bảng cân đối kế toán. Các quyết định đầu tư chủ yếu của DN bao gồm: Sv: Lô Thị Kim Ngân 5 Lớp: CQ50/11.11 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính - Quyết định đầu tư TSLĐ: Quyết định tồn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán hàng, quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn… - Quyết định đầu tư TSCĐ: Quyết định mua sắm TSCĐ, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn… - Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư TSLĐ và đầu tư TSCĐ: Quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động, quyết định điểm hòa vốn. Quyết định đầu tư được xem là quyết định quan trong nhất trong các quyết định TCDN bởi nó tạo ra giá trị cho DN. Một quyết định đầu tư đúng sẽ góp phần làm tăng giá trị DN, qua đó làm tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, ngược lại một quyết định đầu tư sai sẽ làm tổn thất giá trị DN dẫn đến thiệt hại tài sản cho chủ sở hữu DN Quyết định huy động vốn (quyết định nguồn vốn): Là những quyết định liên quan đến nên lựa chọn nguồn vốn nào để cung cấp cho các quyết định đầu tư.
Quyết định nguồn vốn tác động đến bên phải bảng cân đối kế toán (phần Nguồn vốn). Các quyết định huy động vốn chủ yếu của DN bao gồm: - Quyết định huy động vốn ngắn hạn: quyết định vay ngắn hạn hay là sử dụng tín dụng thương mại. Đối với quyết định vay ngắn hạn sẽ phải lựa chọn quyết định vay ngắn hạn ở ngân hàng hay là phát hành tín phiếu. - Quyết định huy động vốn dài hạn: Quyết định sử dụng nợ dài hạn thông qua vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty; quyết định phát hành vốn cổ phần (cổ phần phổ thông hay là cor phần ưu đãi); quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và vốn chưở hữu(đòn bẩy tài chính); quyết định vay để mua, hay thuê tài sản… Các quyết định huy động vốn là một thách thức không nhỏ đối với các nhà quản trị tài chính của DN.
Để có các quyết định huy động vốn đúng đắn, các nhà quản trị tài chính phải có sự nắm vững những điểm lợi, bất lợi của Sv: Lô Thị Kim Ngân 6 Lớp: CQ50/11.11 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính việc sử dụng các công cụ huy động vốn; đánh giá chính xác tình hình hiện tại và sự báo đúng đắn diễn biến thị trường – giá cả trong tương lai…trước khi đưa ra quyết định huy động vốn. Quyết định phân chia lợi nhuận: Gắn liền với việc quyết định về phân chia cổ tức hay chính sách cổ tức của DN. Các nhà quản trị tài chính sẽ phải lựa chọn giữa việc sử dụng LNST để chia cổ tức hay là giữ lại để tái đầu tư. Những quyết định này liên quan đến việc DN nên theo đuổi một chính sách cổ tức như thế nào và liệu chính sách cổ tức có tác động như thế nào đến giá trị DN hay giá cổ phiếu trên thị trường hay không.
Quản trị tài chính doanh nghiệp Khái niệm, nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị TCDN là việc lựa chọn, đưa ra quyết định và tổ chức thực hiên các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của DN. Do các quyết định tài chính của DN đều gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động của DN; vì vậy quản trị TCDN còn được nhìn nhận là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm soát quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ đáp ứng nhu cầu hoạt động của DN. Quản trị TCDN bao gồm các hoạt động của người quản lý (nhà quản trị) liên quan đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản DN nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Quản trị TCDN là một bộ phân, một nội dung quan trọng hàng đầu của nhà quản trị DN, nó có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng tới tất cả các mặt hoạt động của DN.
Hầu hết các quyết định quản trị DN đều dựa trên cơ sở những kết quả rút ra từ việc đánh giá về mặt tài chính của hoạt động quản trị TCDN. Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị TCDN bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Sv: Lô Thị Kim Ngân 7 Lớp: CQ50/11.11 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính - Tham gia việc đánh giá lựa chọn quyết định đầu tư - Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đủ nhu cầu vốn do các hoạt động của DN - Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của DN - Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của DN - Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của DN - Thực hiện kế hoạch tài chính Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp Quản trị TCDN trong các DN khác nhau là không giống nhau. Sự khác nhau đó chịu sự chi phối bởi các nhân tố cơ bản là hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế-kỹ thuật của ngành kinh doanh và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Hình thức pháp lý tổ chức DN Mỗi DN đều tồn tại dưới hình thức pháp lý nhất định về tổ chức DN.
Hình thức pháp lý tổ chức DN ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức TCDN như: Phương thức hình thành và huy động vốn, việc tổ chức quản lý sử dụng vốn, việc chuyển nhượng vốn, phân phối lợi nhuận và trách nhiệm của chủ sở hữu đối với khoản nợ của DN… Đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của ngành kinh doanh Hoạt động của DN thường được thực hiện trong một hoặc một số ngành kinh doanh nhất định. Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế-kỹ thuật riêng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức tài chính của DN. Những DN hoạt động trong ngành thương ại dịch vụ thì VLĐ chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của VLĐ cũng nhanh hơn so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng. Ở các ngành này, Sv: Lô Thị Kim Ngân 8 Lớp: CQ50/11.11 Luan van Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính VCĐ thường chiếm tỷ trọng cao hơn VLĐ, thời gian thu hồi vốn cũng chậm hơn.
Những DN sản xuất ra các loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất ngắn thì nhu cần VLĐ giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, DN cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó có thể dễ dàng bảo đảm cân đối thu chi bằng tiền, cũng như bảo đảm nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh.