Luận án tiến sĩ: Tổng hợp và đánh giá tác dụng sinh học các dẫn xuất của indirubin

Luận án tiến sĩ phân tích và đánh giá tác dụng sinh học của các dẫn xuất indirubin, cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiềm năng ứng dụng trong y học.

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

302
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Hóa chất, thiết bị nghiên cứu

2.2.1.1. Hóa chất, dung môi, dòng tế bào nghiên cứu
2.2.1.2. Thiết bị dùng cho nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học

2.2.2.1. Phương pháp xác định tính độc tế bào đối với các dòng tế bào nuôi cấy dạng đơn lớp (hoạt tính gây độc tế bào)
2.2.2.2. Phương pháp xác định tính độc tế bào đối với các dòng tế bào nuôi cấy dạng hỗn dịch (hoạt tính chống tăng sinh)

2.2.3. Chuẩn bị các phối tử và protein

2.2.4. Mô phỏng tương tác sử dụng phần mềm AutoDock

3. CHƯƠNG III: TỔNG HỢP CÁC TỔ HỢP LAI CỦA INDIRUBIN VỚI CÁC HỢP CHẤT 1,3,4-OXADIAZOLE, 1,3,4-THIADIAZOLE, 6-MERCAPTOPURIN QUA LIÊN KẾT TRIMETHYLEN (CHUYỂN HÓA Ở NHÓM HYDROXYL CỦA C-3ʹ-OXIME)

3.1. Tổng hợp indirubin-3ʹ-oxime 25 và indirubin-3′-[O-(3-bromoprop-1-yl)oxime] 26

3.2. Tổng hợp các hợp chất 1,3,4-oxadiazole; 1,3,4-thiadiazole

3.3. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin qua liên kết trimethylen từ chất trung gian chìa khóa 26

3.4. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin qua liên kết 2-ol-1,3-propylen (chuyển hóa ở nhóm hydroxyl của C-3ʹ-oxime)

3.5. Tổng hợp indirubin-3ʹ-(O-oxiran-2-ylmethyl)oxime 27

3.6. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin qua liên kết 2-ol-1,3-propylen từ chất trung gian chìa khóa 27

3.7. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin qua liên kết 2-ol-1,3-propylen (chuyển hóa ở N-1)

3.8. Tổng hợp (2ʹZ)-1-(oxiran-2-ylmethyl)indirubin 44

3.9. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin qua liên kết 2-ol-1,3-propylen từ chất trung gian chìa khóa 44

3.10. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất hydroxychalcone qua liên kết methylen 1,2,3-triazole (chuyển hóa ở nhóm hydroxyl của C-3ʹ-oxime)

3.11. Tổng hợp các 4-(2-azidoethoxy)-2-hydroxychalcone 51a-51l

3.12. Tổng hợp chất trung gian chìa khóa indirubin-3ʹ-[O-(prop-2-ynyl)oxime] 52

3.13. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất hydroxychalcone qua liên kết methylen 1,2,3-triazole từ chất trung gian chìa khóa 52

3.14. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất hydroxychalcone qua liên kết methylen 1,2,3-triazole (chuyển hóa ở vị trí C-3ʹ và N-1)

3.15. Tổng hợp chất trung gian (2ʹZ)-1-(prop-2-ynyl)indirubin 54

3.16. Tổng hợp chất trung gian chìa khóa (2ʹZ, 3ʹE)-1-(prop-2-ynyl)indirubin-3ʹ-oxime 55

3.17. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất hydroxychalcone qua liên kết methylen 1,2,3-triazole từ chất trung gian chìa khóa 55

3.18. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất amine qua liên kết methylen 1,2,3-triazole (chuyển hóa ở vị trí C-3ʹ và N-1)

3.19. Thử nghiệm hoạt tính sinh học các dẫn xuất mới của indirubin

3.19.1. Thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào

3.19.2. Thử nghiệm hoạt tính chống tăng sinh

4. CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tổng hợp các dẫn xuất mới của indirubin

4.2. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin qua liên kết trimethylen (chuyển hóa ở nhóm hydroxyl của C-3ʹ-oxime)

4.3. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin qua liên kết 2-ol-1,3-propylen (chuyển hóa ở nhóm hydroxyl của C-3ʹ-oxime)

4.4. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurine qua liên kết 2-ol-1,3-propylen (chuyển hóa ở vị trí N-1)

4.5. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất hydroxychalcone qua liên kết methylen 1,2,3-triazole (chuyển hóa ở nhóm hydroxyl của C-3ʹ-oxime)

4.6. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất hydroxychalcone qua liên kết methylen 1,2,3-triazole (chuyển hóa ở vị trí C-3ʹ và N-1)

4.7. Tổng hợp các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất amine qua liên kết methylen 1,2,3-triazole (chuyển hóa ở vị trí C-3ʹ và N-1)

4.8. Đánh giá hoạt tính chống ung thư in vitro các dẫn xuất mới của indirubin

4.8.1. Đánh giá hoạt tính chống ung thư các dẫn xuất mới của indirubin 42a-42i

4.8.2. Đánh giá hoạt tính chống ung thư các dẫn xuất mới của indirubin 43a-43i

4.8.3. Đánh giá hoạt tính chống ung thư các dẫn xuất mới của indirubin 45a-45h

4.8.4. Đánh giá hoạt tính chống ung thư các dẫn xuất mới của indirubin 53a-53l

4.8.5. Đánh giá hoạt tính chống ung thư các dẫn xuất mới của indirubin 56a-56p

4.9. Mối tương quan giữa cấu trúc và hoạt tính chống ung thư của các chất

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dẫn xuất indirubin

Dẫn xuất indirubin là một nhóm hợp chất có nguồn gốc từ indirubin, một bisindole alkaloid, được chiết xuất từ cây chàm mèo Strobilanthes cusia. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng indirubin và các dẫn xuất của nó có nhiều tác dụng sinh học đáng chú ý, bao gồm khả năng chống ung thư, kháng viêm, và chống oxy hóa. Việc tổng hợp và đánh giá tác dụng sinh học của các dẫn xuất này là cần thiết để phát triển các liệu pháp điều trị mới. Theo một nghiên cứu, tác động sinh học của indirubin có thể được giải thích qua cơ chế tác động lên các enzyme và thụ thể trong tế bào, từ đó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào ung thư.

1.1. Tác dụng sinh học của indirubin

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng indirubin có khả năng ức chế sự phát triển của các dòng tế bào ung thư như Hep-G2, LU-1, và SW480. Các dẫn xuất của indirubin cũng cho thấy hoạt tính chống viêm và kháng virus. Một nghiên cứu cho thấy rằng indirubin có thể ức chế hoạt động của enzyme GSK-3β, một enzyme quan trọng trong quá trình phát triển ung thư. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới cho việc phát triển các loại thuốc điều trị ung thư từ indirubin.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp hóa học và sinh học hiện đại. Các hợp chất được tổng hợp từ indirubin thông qua các phản ứng hóa học với các chất khác nhau như isatin và indoxyl acetate. Sau khi tổng hợp, các dẫn xuất được đánh giá tác dụng sinh học thông qua các thử nghiệm in vitro. Phương pháp xác định tính độc tế bào và hoạt tính chống tăng sinh được áp dụng để đánh giá hiệu quả của các dẫn xuất mới. Các kết quả thu được sẽ cung cấp thông tin quan trọng về khả năng ứng dụng của các dẫn xuất này trong điều trị ung thư.

2.1. Tổng hợp các dẫn xuất mới

Quá trình tổng hợp các dẫn xuất mới của indirubin được thực hiện bằng cách sử dụng các phương pháp hóa học như sắc ký và phổ khối lượng. Các hợp chất được tổng hợp sẽ được phân tích để xác định cấu trúc và tính chất hóa học. Việc tổng hợp thành công các dẫn xuất mới sẽ mở ra cơ hội cho việc nghiên cứu sâu hơn về tác dụng sinh học của chúng.

III. Đánh giá tác dụng sinh học

Đánh giá tác dụng sinh học của các dẫn xuất indirubin là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Các thử nghiệm in vitro cho thấy rằng một số dẫn xuất mới có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư một cách hiệu quả. Kết quả cho thấy rằng các dẫn xuất này không chỉ có tác động sinh học mạnh mẽ mà còn có thể được phát triển thành các liệu pháp điều trị mới. Việc phân tích mối tương quan giữa cấu trúc và hoạt tính sinh học của các dẫn xuất cũng là một điểm nhấn trong nghiên cứu này.

3.1. Kết quả thử nghiệm in vitro

Kết quả thử nghiệm cho thấy rằng các dẫn xuất mới của indirubin có hoạt tính chống ung thư cao, với IC50 thấp trên nhiều dòng tế bào. Các dẫn xuất này không chỉ ức chế sự phát triển của tế bào ung thư mà còn có khả năng gây chết tế bào thông qua các cơ chế khác nhau. Điều này chứng tỏ rằng indirubin và các dẫn xuất của nó có tiềm năng lớn trong việc phát triển các loại thuốc điều trị ung thư hiệu quả.

IV. Kết luận và triển vọng

Nghiên cứu về tác dụng sinh học của các dẫn xuất indirubin đã chỉ ra rằng chúng có nhiều tiềm năng trong việc phát triển các liệu pháp điều trị ung thư. Việc tổng hợp và đánh giá các dẫn xuất mới không chỉ mở ra hướng nghiên cứu mới mà còn có thể góp phần vào việc phát triển các loại thuốc mới từ nguồn nguyên liệu thiên nhiên. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện độ tan và tính ổn định của các dẫn xuất này để tăng cường hiệu quả điều trị.

4.1. Triển vọng nghiên cứu

Triển vọng nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình tổng hợp và đánh giá thêm các hoạt tính sinh học khác của các dẫn xuất indirubin. Việc nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác động của các dẫn xuất này sẽ giúp hiểu rõ hơn về khả năng ứng dụng của chúng trong điều trị ung thư và các bệnh lý khác.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Các hợp chất thiên nhiên được tạo thành từ quá trình sinh tổng hợp trong thực động vật, vi sinh vật thường có các hoạt tính sinh học rất đặc biệt, chọn lọc, dễ dung nạp vào cơ thể và ít tác dụng phụ. Vì thế, nhiều chất trong số chúng đã được sử dụng rộng rãi trong thực tế để làm thuốc điều trị bệnh như: ung thư, nhiễm khuẩn… mà tác dụng điều trị các bệnh này được quyết định bởi cấu trúc hóa học của chúng. Cấu trúc hóa học của các hợp chất thiên nhiên thường rất phức tạp mà bằng con đường tổng hợp toàn phần sẽ không kinh tế vì phải qua nhiều bước phản ứng, hiệu suất thấp, chi phí xử lý môi trường cao, thời gian phản ứng dài. Do đó, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có từ thiên nhiên để tổng hợp, phân lập các chất dẫn đường, sau đó chuyển hóa chúng thành các dẫn xuất có hoạt tính sinh học tốt hơn chất dẫn đường đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học.

Gần đây, các nhà khoa học đã khám phá nhiều hoạt tính sinh học của hợp chất indirubin và dẫn xuất, một bisindole alkaloid có thể được thu nhận với lượng lớn từ nguyên liệu cây chàm mèo Strobilanthes cusia có nhiều ở Việt Nam hoặc bằng phản ứng giữa isatin và indoxyl acetate. Hoạt chất này và dẫn xuất của nó thể hiện nhiều hoạt tính sinh học quí như gây độc với nhiều dòng tế bào ung thư, có tác dụng chống kết tập tiểu cầu, tác dụng kháng viêm, kháng virus, chống oxy hóa, kháng nấm, chống vảy nến với cơ chế rõ ràng, đến thời điểm hiện tại các công bố về các hoạt tính này vẫn đang tiếp tục. Tuy nhiên, để ứng dụng hợp chất này vào thực tế vẫn còn khó khăn do độ tan kém trong nước, một số công trình đã và đang nghiên cứu sử dụng hướng thứ nhất để cải thiện độ tan của indirubin, theo hướng thứ hai một số dẫn xuất cũng đã được tổng hợp tuy nhiên các công bố vẫn chưa nhiều. Theo hướng này, đề tài của luận án đề cập tới tổng hợp một số dẫn xuất mới của indirubin là các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất dị vòng chứa S, N, O; các hợp chất hydroxychalcone và các hợp chất amine, sau đó đánh giá hoạt tính chống ung thư in vitro, giải thích hoạt tính để bổ sung các dữ liệu về hóa học và hoạt tính sinh học của các dẫn xuất này làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn trong việc tìm kiếm các thuốc mới để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng từ nguồn nguyên liệu thực vật sẵn có trong nước.

Vì thế, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổng hợp và đánh giá tác dụng sinh học các dẫn xuất của indirubin”. 1 luan an Mục tiêu của luận án: - Tổng hợp được trên 40 dẫn xuất mới của indirubin xuất phát từ nguyên liệu đầu indirubin được thu nhận từ cây chàm mèo Strobilanthes cusia. - Đánh giá hoạt tính chống ung thư in vitro của các dẫn xuất mới tạo ra. Nội dung của luận án: 1.

Tổng hợp các dẫn xuất mới của indirubin là các tổ hợp lai của indirubin với các hợp chất 1,3,4-oxadiazole, 1,3,4-thiadiazole, 6-mercaptopurin, các hợp chất hydroxychalcone và các hợp chất amine; 2. Xác định cấu trúc của các dẫn xuất mới tổng hợp được bằng các phương pháp phổ hiện đại; 3. Đánh giá hoạt tính chống ung thư in vitro ( ung thư đại tràng SW480, ung thư phổi LU-1, ung thư gan HepG2, ung thư máu HL-60 ) của các dẫn xuất mới tổng hợp được; 4. Nghiên cứu mối tương quan giữa cấu trúc và hoạt tính chống ung thư của một số dẫn xuất mới tổng hợp được sử dụng phần mềm AutoDock 4.

Giới thiệu về indirubin và một số đồng phân Indirubin là một bisindole alkaloid có màu đỏ thẫm có công thức phân tử là C16H10N2O2 (M = 262 g/mol), tên IUPAC: (3Z)-3-(3-oxo-1,3-dihydro-2H-indol-2- ylidene)-1,3-dihydro-2H-indol-2-one, nhiệt độ nóng chảy 356,2÷357,8 oC, hợp chất này không tan trong nước, tan ít trong methanol, ethanol, tan nhiều hơn trong acetone, DMSO, DMF. Phổ UV-VIS của nó trong dung môi 1,1,2,2-tetrachloroethane có các cực đại ở 291, 356 và 540 nm [1]. Indirubin có công thức cấu tạo như Hình 1. Công thức cấu tạo của indirubin 1 Phân tử indirubin có một liên kết hydro nội phân tử được hình thành giữa nguyên tử H-1ʹ với nguyên tử O của nhóm C=O ở C-2 và liên kết này được chứng minh qua nhiễu xạ tia X đơn tinh thể [2].

Nhóm tác giả cũng chỉ ra sự liên hợp giữa các phân tử indirubin với nhau, đây cũng là một trong những lý do kém tan của indirubin. Indirubin 1 và một số đồng phân của nó như indigotin 2 màu xanh, indigo 3 màu xanh, isoindirubin 4 màu đỏ, isoindigo 5 màu nâu được tìm thấy trong lá của cây Isatis tinctoria [3] (Hình 1. Công thức cấu tạo của một số đồng phân của indirubin 3 luan an Từ bài thuốc cổ truyền của Trung Quốc tên là Danggui Longhui Wan để điều trị bệnh ung thư bạch cầu Leukemia, gồm 11 thảo dược khác nhau. Năm 1966 các nhà khoa học thuộc Viện Huyết học, Viện Dược khoa Trung Quốc đã xác nhận tác dụng này nằm trong một vị thuốc có tên Thanh Đại [4].

Thanh Đại là bột màu xanh đen được làm từ lá của một số cây như: Strobilanthes cusia (Nees. Kuntze - chàm mèo (Acanthaceae), Polygonum tinctorium (Polygonaceae) ở Nhật Bản, Isatis indigotica (Brassicaceae), Indigofera suffrutticosa (Fabaceae) và Indigofera tinctoria L. Bột chàm chứa hàm lượng lớn indigotin 2, một phẩm nhuộm tự nhiên màu chàm xanh. Những nghiên cứu sâu hơn cho thấy rằng chúng có chứa indirubin 1 và hoạt tính chống ung thư bạch cầu của bột chàm là do hoạt tính indirubin mà có.

Năm 1999, các nhà khoa học Đức đã công bố indirubin và các dẫn xuất có tác dụng ức chế enzyme kinase phụ thuộc cyclin (CDK) [4]. Các enzyme CDK, một họ kinase protein được hoạt hóa bởi cyclin, có chức năng điều khiển chu trình tế bào thông qua việc gắn các nhóm photphat vào cơ chất protein (quá trình phosphoryl hóa) kiểm soát các quá trình này trong tế bào. Các CDK còn tham gia vào việc điều khiển các quá trình phiên mã, xử lý mRNA và quá trình tự chết của tế bào. Các CDK photphoryl hóa các protein ở các đoạn chứa các aminoaxit Serin và Threonin thuộc vùng vị trí hoạt động.

Cho tới nay đã có 9 CDKs (cdk1-9) và khoảng trên 16 cyclin gắn kết đã được xác định và đang từng bước được làm rõ mối liên quan đến các bệnh khác nhau như ung thư, tiểu đường, Alzheimer’s, thần kinh… Indirubin và dẫn xuất của nó là các chất có hoạt tính sinh học cao, chúng ức chế các enzyme CDK1, CDK2, GSK-3β [5, 6], qua đó tác động đến chu trình hình thành và phát triển của tế bào ung thư, bởi vậy chúng là các đối tượng nhận được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học. Thu nhận, tổng hợp indirubin 1. Thu nhận indirubin từ nguyên liệu cây chàm mèo Strobilanthes cusia Indirubin 1 có thể được thu nhận từ lá chàm mèo Strobilanthes cusia theo quy trình của Nguyễn Mạnh Cường và cộng sự [7]. Lá chàm mèo được thái nhỏ, để lên men 3 ngày sau đó lọc rồi kiềm hóa, tách lấy bột chàm.

Bột chàm thu được chiếm 0,75% lượng mẫu tươi, nhiều hơn so với lượng bột chàm nhận được khi tiến hành theo quy trình trong dân gian, hàm lượng indirubin cũng cao hơn so với hàm lượng 4 luan an indirubin trong bột chàm theo quy trình trong dân gian. Indirubin được phân tách bằng sắc ký cột silicagel (cỡ hạt 0,063÷0,4 mm) hệ dung môi rửa giải n- hexan/dichloromethan tăng dần độ phân cực. Ngoài ra, một lượng lớn indirubin có thể thu được bằng phản ứng của dịch chiết nước giàu indican từ lá chàm mèo với isatin trong môi trường kiềm theo phương pháp của chính nhóm tác giả [8]. Tổng hợp indirubin từ nguyên liệu hóa học Indirubin được Baeyer tổng hợp từ khá sớm bằng phản ứng ngưng tụ giữa isatin 6 và indoxyl 7 sử dụng dung môi ethanol, xúc tác Na2CO3 (Sơ đồ 1.

Tuy nhiên, indoxyl 7 là chất trung gian khó tổng hợp và không bền, dễ bị dime hóa để tạo thành indigotin 2. Để khắc phục nhược điểm này, năm 1969, Rusell và Kaupp cải tiến phương pháp tổng hợp của Baeyer bằng cách thay indoxyl 7 bằng indoxyl acetate 8 bền hơn, thay dung môi ethanol bằng methanol (Sơ đồ 1.2), cũng giống như nghiên cứu của Bayer các tác giả không công bố hiệu suất của phản ứng [10]. Hiện nay phương pháp này được sử dụng khá phổ biến để điều chế indirubin và hầu hết các dẫn xuất của nó. Tổng hợp indirubin từ isatin và indoxyl Sơ đồ 1.

Tổng hợp indirubin theo Rusell và Kaupp Năm 2017, Cuiling Wang và cộng sự công bố qui trình tổng hợp indirubin 1 giai đoạn bằng cách khử isatin 6 bởi tác nhân KBH4 trong dung môi methanol. Phản ứng tiến hành trong không khí ở nhiệt độ hồi lưu với tỷ lệ mol của isatin/KBH4 là 2/1. Phương pháp này dễ thực hiện và cho hiệu suất tạo thành sản phẩm indirubin cao (90,8%) (Sơ đồ 1. Tổng hợp indirubin bằng cách khử isatin 6 bởi KBH4 Tóm lại, indirubin có thể được tổng hợp từ nguyên liệu cây chàm mèo Strobilanthes cusia hoặc được tổng hợp từ các phản ứng hóa học khác nhau, trong đó phản ứng của Russel và Kaupp (Sơ đồ 1.2) là phản ứng thường được dùng để điều chế indirubin hiện nay.

Tổng hợp các dẫn xuất của indirubin 1. Tổng hợp các dẫn xuất của indirubin từ các dẫn xuất của isatin và indoxyl acetate. Trong hai công trình được công bố vào các năm 2010 và 2017, Cheng và các cộng sự đã thực hiện phản ứng ngưng tụ giữa các dẫn xuất của isatin 9 và indoxyl acetate 10 trong dung môi methanol, xúc tác Na2CO3 và đã nhân được các dẫn xuất của indirubin 11 với hiệu suất tốt (Sơ đồ 1. Bản chất của phản ứng này vẫn là phương pháp của Rusell và Kaupp [10].

Tổng hợp các dẫn xuất của indirubin 11 Năm 2017, Wang và các cộng sự đã đưa ra một phương pháp để tổng hợp các dẫn xuất của indirubin 12 có hai nhóm thế giống nhau ở hai bên vòng phenyl đó là thực hiện phản ứng khử hóa các dẫn xuất của isatin 9 bởi KBH4 trong dung môi MeOH, không khí, điều kiện hồi lưu (Sơ đồ 1.5), hiệu suất nhận được các dẫn xuất indirubin là 76,4÷88,4% [11]. Glycosyl hóa indirubin là một phương pháp khá thú vị để cải thiện độ tan của indirubin do sự xuất hiện của nhóm đường. Theo hướng này, một số các hợp chất indirubin N1-glycoside cũng đã được Libnow giới thiệu [14]. Trước hết N-(2,3,4-Tri- O-acetyl-α,β-L-rhamnopyranosyl)isatin 16α,β được điều chế từ đường L-rhamnose (Sơ đồ 1.

Tổng hợp các dẫn xuất của indirubin 12 bằng cách khử hóa các dẫn xuất của isatin 9 bởi KBH4 Sơ đồ 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Tổng hợp và đánh giá tác dụng sinh học các dẫn xuất của indirubin" của tác giả Nguyễn Trọng Dân, dưới sự hướng dẫn của TS. Tô Đạo Cường và TS. Lưu Văn Chính, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ vào năm 2021. Bài luận án này tập trung vào việc tổng hợp các dẫn xuất của indirubin và đánh giá tác dụng sinh học của chúng, mở ra hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực hóa học và dược học. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về tiềm năng ứng dụng của các dẫn xuất này trong điều trị bệnh, đặc biệt là trong lĩnh vực ung thư và các bệnh lý khác.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Trong Điều Trị Ngoại Trú Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Kon Rẫy, Tỉnh Kon Tum Năm 2022, nơi đề cập đến việc kê đơn thuốc và các yếu tố liên quan đến điều trị. Bên cạnh đó, Phân Tích Thực Trạng Tồn Trữ Thuốc Tại Trung Tâm Y Tế Huyện Mê Linh – Hà Nội Năm 2021 cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý thuốc trong y tế. Cuối cùng, Thực Trạng Kê Đơn Thuốc Bảo Hiểm Y Tế Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đa Khoa Vạn Phúc 2 Bình Dương Năm 2022 sẽ cung cấp thêm thông tin về việc kê đơn thuốc trong bối cảnh bảo hiểm y tế, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực này.