ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm là một phản ứng của cơ thể chống lại điều kiện bất lợi biểu hiện qua bốn triệu chứng sưng, nóng, đỏ và đau. Các cơn đau do viêm tuy ít nguy hiểm nhưng làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống và công việc hàng ngày. Việc trị đau do viêm luôn là vấn đề cần thiết, đòi hỏi nhà điều trị chọn lựa thuốc tốt, hiệu quả, cắt cơn nhanh và an toàn. Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) cổ điển (indomethacin, diclofenac, ibuprofen, ketoprofen, …) có chung cơ chế ức chế cả COX-1 (cyclooxygennase) và COX-2 gây các tác dụng phụ như gây loét dạ dày, tác động lên chức năng tiểu cầu, các bệnh về thận như protein niệu, hoại tử nhú thận, viêm kẽ thận, hen suyễn, tác động lên thai kỳ.
Các thuốc NSAID ức chế chọn lọc COX-2 (nimesulid, flosulid, celecoxib, rofecoxib, etoricoxib) ra đời nhằm khắc phục các tác dụng phụ này tuy nhiên vẫn có những bàn cải về tính an toàn trên hệ tim mạch vì các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mắc các biến cố tim mạch do uống nhóm này tăng lên.1,2 Do vậy, các thuốc NSAID cổ điển có tác động thiên về COX-2 ít tác hại lên đường dạ dày – ruột và ít có tác dụng bất lợi trên hệ tim mạch thường được lựa chọn cho điều trị đau do viêm và aceclofenac là một điển hình. Aceclofenac được xem là dẫn chất mới của diclofenac được sử dụng phổ biến và lâu dài trong điều trị triệu chứng đau và các bệnh xương khớp do viêm hoặc thoái hóa như viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, chấn thương hoặc viêm sau phẫu thuật,. Hiệu quả lâm sàng của aceclofenac tương tự như các NSAID khác nhưng an toàn và đặc biệt là khả năng hấp thu tốt tại dạ dày. Tuy nhiên, aceclofenac có thời gian bán thải ngắn (4 – 4,3 giờ), khả năng hòa tan trong nước thấp (khoảng 0,018 g/100 ml), sinh khả dụng đường uống thấp ảnh hưởng đến tốc độ hấp thu của dược chất vào cơ thể dẫn đến tác dụng của thuốc bị giảm, hiệu quả điều trị không ổn định, cần sử dụng thuốc nhiều lần trong ngày.3,4 Dạng thuốc phóng thích kéo dài (PTKD) chứa aceclofenac giúp khắc phục các nhược điểm trên với sinh khả dụng cải thiện, nâng cao hiệu quả trị liệu.
Đây cũng là dạng bào chế đang được các nhà bào chế quan tâm nghiên cứu nhằm cải thiện sinh khả dụng, khắc phục nhược điểm của dạng bào chế qui ước đặc biệt là dạng bào chế viên nén. 2 Nhiều sản phẩm thuốc PTKD đã ra đời trên thị trường gần đây với những dược chất thuộc các nhóm trị liệu khác nhau như tim mạch, huyết áp, tiểu đường cho thấy tiềm năng to lớn và hiệu quả trị liệu của chúng. Trên thế giới, có một vài nghiên cứu về viên aceclofenac PTKD cụ thể Priyanka Singh và cộng sự (2021) đã nghiên cứu bào chế viên nén ACE 200 mg PTKD sử dụng tá dược tạo khung Guar Gum tỉ lệ 40 % bằng phương pháp xát hạt ướt, kết quả thu được viên nén có độ GPHC là 99,8 % kéo dài trong 24 giờ, chứng minh rằng Guar Gum có thể là chất mang ưa nước tiềm năng trong nghiên cứu phát triển dạng bào chế PTKD này. Uzair Nagra và cộng sự (2019) đã sử dụng hỗn hợp tá dược polyme Carbopol 934P: Kollidon SR (2: 1) để bào chế viên nén ACE 200 mg PTKD, thu được viên nén có độ GPHC trên 98 % kéo dài trong 12 giờ, …5,6 Trong 2 nghiên cứu trên, Guargum và Kollidon SR là 2 tá dược cho thấy sự không ổn định ở môi trường nóng ẩm, làm thay đổi phóng thích, cần có sự cải thiện thêm.
Hiện nay, một số thuốc ngoại nhập trên thị trường có chứa aceclofenac dạng PTKD như Clanza CR 200 mg (Hàn Quốc), Zerodol CR (Ấn Độ), Acenac SR 200 mg (Pakistan), … còn hạn chế, đặc biệt ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về dạng này. Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu bào chế viên aceclofenac 200 mg phóng thích kéo dài” được thực hiện nhằm mục tiêu bào chế viên PTKD có độ giải phóng hoạt chất (GPHC) tương đương với viên đối chiếu (Zerodol® CR 200 mg – Ấn Độ) thu thập trên thị trường. Để giải quyết mục tiêu đề ra, các mục tiêu cụ thể cần thực hiện: 1. Nghiên cứu xây dựng công thức bào chế viên nén aceclofenac 200 mg PTKD.
Nâng cỡ lô 10.000 viên, xây dựng quy trình bào chế, đánh giá tính chất viên và so sánh tương đương hòa tan so với viên đối chiếu. Xây dựng dự thảo tiêu chuẩn cơ sở cho viên nghiên cứu. Sơ bộ đánh giá độ ổn định của chế phẩm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về aceclofenac 1. Công thức phân tử và tính chất lý hóa Hình 1. Công thức cấu tạo của aceclofenac Tên khoa học: 2-[(2,6-dichlorophenyl) amino]-phenyl] acetoxy] acetic acid. Công thức phân tử: C16H13Cl2NO4 Khối lượng phân tử7: 354,2 Tính chất lý hóa + Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng.
+ Tan rất ít trong nước khoảng 0,018 g/100 ml, trong ethanol 96 % độ tan khoảng 1,381 g/100 ml, trong chloroform độ tan khoảng 3,365 g/100 ml, trong methanol độ tan khoảng 1,063 g/100ml. Điểm chảy 149 – 150 oC. + Aceclofenac có tính acid yếu (pKa: 4 – 5), phụ thuộc vào độ pH.1,8 + Aceclofenac thuộc BCS nhóm II (độ tan thấp – tính thấm cao). Định tính + Phổ UV-Vis Dung dịch (dd) thử: Cân khoảng 50 mg chế phẩm vào bình định mức 100 ml, hòa tan trong methanol (TT), pha loãng bằng methanol (TT) vừa đủ 100 ml.
Hút chính xác 2 ml dd trên vào bình định mức 50 ml, pha loãng đến vạch bằng methanol (TT). Quét phổ hấp phụ tử ngoại của dd ở dải bước sóng từ 220 – 370 nm. Dung dịch cho độ hấp thu cực đại ở bước sóng 275 nm. Đỉnh hấp thu cực đại của aceclofenac nằm trong khoảng 271 – 281 nm.
Độ hấp thu riêng từ 320 – 350 nm. 4 + Phổ hồng ngoại: Đối chiếu phổ IR của mẫu chuẩn và mẫu thử.9 + Phản ứng hóa học: Hòa tan khoảng 10 mg chế phẩm trong 10 ml ethanol 96 %. Lấy 1 ml dd thu được cho vào ống nghiệm, thêm 0,2 ml của hỗn hợp, được chuẩn bị trước khi sử dụng, thể tích tương đương của 6 (g/l) kali ferricyanid (TT) và 9 (g/l) dung dịch FeCl3. Để yên tránh ánh sáng trong 5 phút.
Màu xanh xuất hiện và tủa được tạo thành.9 Định lượng + Phương pháp chuẩn độ điện thế9 Cân chính xác khoảng 0,300 g chế phẩm cho vào cốc chuẩn độ, hòa tan trong 40 ml methanol (TT). Chuẩn độ bằng dd NaOH 0,1 M (CĐ). Xác định điểm kết thúc bằng phương pháp chuẩn độ điện thế. 1ml dd NaOH 0,1M (CĐ) tương đương 35,42 mg aceclofenac (C16H13Cl2NO4).
+ Phương pháp UV11 Dd chuẩn: Cân chính xác 50 mg aceclofenac chuẩn vào bình định mức 50 ml, hòa tan trong methanol (TT), pha loãng bằng methanol (TT) vừa đủ 50 ml. Dd thử: Cân khoảng 50 mg chế phẩm cho vào bình định mức 100 ml, hòa tan trong methanol (TT), pha loãng bằng methanol vừa đủ 100 ml. Hút chính xác 2 ml dd trên cho vào bình định mức 50 ml và pha loãng đến vạch bằng methanol (TT). Đo độ hấp thu của mẫu chuẩn và mẫu thử ở bước sóng 275 nm, dùng dd đệm phosphat pH 6,8 làm mẫu trắng.
Tính toán kết quả thu được. + Phương pháp HPLC12 Thuốc thử: Acetonitril (HPLC) (TT). Điều kiện sắc ký: Cột: Phenomenex Gemini C18 (250 mm x 4,6 mm; 5 𝜇m) Pha động: dung dịch đệm pH 5,0 : acetonitril (60:40) Tốc độ dòng: 1 ml/ phút Thể tích tiêm: 20 𝜇l Detector: PDA Bước sóng phát hiện 275 nm. Thu sắc kí đồ của mẫu thử và mẫu chuẩn.
Tác dụng dược lý Aceclofenac là một loại thuốc giảm đau kháng viêm thuộc dẫn xuất acid phenylacetic cho thấy tác dụng tốt đối với trường hợp đau răng, đau sau phẫu thuật hoặc sinh con, ngoài các bệnh khớp mãn tính như viêm khớp dạng thấp, bệnh xương khớp hoặc viêm cột sống dính khớp. Đặc biệt, aceclofenac có khả năng thâm nhập vào mô viêm như khớp một cách dễ dàng do đó có tác dụng ngăn chặn sự tạo ra prostaglandin trong mô viêm. Ngoài ra, aceclofenac có tác dụng yếu trong việc ngăn chặn tạo ra prostaglandin bình thường trong niêm mạc dạ dày do đó làm giảm các vấn đề về dạ dày. Vì vậy, aceclofenac thích hợp để sử dụng lâu dài và ngăn ngừa sự suy thoái của bệnh viêm khớp dạng thấp hoặc viêm xương khớp nhờ có tính chất ức chế việc tạo ra interleukin phá hủy sụn trong khớp để kích thích sự tạo ra glycosaminoglycan, là một thành phần của sụn khớp.
Dược động học Hấp thu: Aceclofenac được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn qua đường tiêu hóa và lưu thông chủ yếu dưới dạng không đổi sau khi uống. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được tương đối nhanh (1,25 – 3 giờ) sau khi uống.14 Phân bố: Thuốc phân bố đến dịch khớp có thể đạt tới 60 % nồng độ trong huyết tương. Thể tích phân bố khoảng 25 L. Không có sự tích lũy khi dùng liều thường xuyên, nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax) và thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương (tmax) sau khi dùng một lần và nhiều lần trong ngày tương tự nhau.
Aceclofenac liên kết cao với protein trong huyết tương (> 99 %).14 Chuyển hóa: Aceclofenac là một loại thuốc tiền chất được hấp thu vào cơ thể và sau đó được chuyển hóa chủ yếu thành 4’-hydroxyaceclofenac, chất chuyển hóa chính được phát hiện trong huyết tương. Các chất chuyển hóa phụ khác bao gồm diclofenac, 5-hydroxyaceclofenac, 5-hydroxydiclofenac và 4’-hydroxydiclofenac.14 Thải trừ: Aceclofenac thải trừ chính là qua nước tiểu (70 – 80 %). Khoảng 2/3 liều dùng được thải trừ qua nước tiểu (70 – 80 %), chủ yếu dưới dạng glucuronid hóa và các chất chuyển hóa của aceclofenac. Thời gian bán thải là 4 giờ.
Chỉ định – Chống chỉ định Chỉ định: Giảm đau và kháng viêm: đau răng, chấn thương, đau lưng, viêm xương, khớp, viêm khớp dạng thấp, viêm cứng khớp đốt sống, …15 Chống chỉ định: Hen suyễn. Loét đường tiêu hóa tiến triển. Có tiền sử quá mẫn với aceclofenac. Liều dùng – Cách dùng Liều dùng: 200 mg mỗi ngày, uống 1 lần (mỗi 24 giờ).
Liều dùng và số lần dùng có thể thay đổi theo hướng dẫn của bác sĩ/dược sĩ. Cách dùng: Nên dùng sau bữa ăn để giảm nguy cơ ảnh hưởng đến dạ dày ruột. Tương tác thuốc – Phản ứng phụ Tương tác thuốc: Giám sát kỹ người bệnh khi phối hợp lithium, digoxin, thuốc uống trị tiểu đường, thuốc kháng đông máu, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau khác. Phản ứng phụ: Rối loạn tiêu hóa, phát ban, mày đay, đau đầu, chóng mặt, buồn ngủ, các triệu chứng của chứng đái dầm.
Thuốc phóng thích kéo dài dạng khung xốp 1.