MỞ ĐẦU Quá trình tổng hợp các chất dị vòng chứa là một chủ để đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học do tính ứng dụng rộng rãi của nó. Hợp chất dị vòng tồn tại nhiều trong tự nhiên và có vai trò quan trọng trong cuộc sống. Các hợp chất có chứa vòng pyrimidine thể hiện khả năng chống nấm, các kháng khuẩn, kháng ung thư [65]. Một số vòng pyrimidine là thành phần quan trọng nhất trong tất cả các diazines, vì cấu trúc của vòng này xuất hiện rộng rãi trong cuộc sống sinh vật.
Đặc biệt nó có tính ứng dụng rất cao trong ngành dược phẩm để chế tạo thuốc. Chính vì vậy, mối quan tâm hydropyrimidine ngày càng được tăng lên. Các dẫn xuất của dị vòng pyrimidine được sử dụng rộng rãi trong chữa bệnh, và hiện nay, việc nghiên cứu tổng hợp và thăm dò hoạt tính sinh học của chúng là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong nghiên cứu và phát triển thuốc [95]. Các hợp chất dị vòng 1,2,3-triazole có những hoạt tính sinh học hữu ích, vì vậy chúng đã và đang là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Có những công trình nghiên cứu đã chỉ ra khả năng kháng lao và chống nấm rất tốt của 1,2,3-triazole. Đặc biệt nó còn có khả năng chống nấm bội nhiễm, căn bệnh rất phổ biến ở những đất nước có khí hậu nóng ẩm như Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu hóa học các hợp chất triazole là rất cần thiết [27, 49]. Một số nhiệm vụ cần được thực hiện của luận văn Thạc sĩ này như sau: + Tổng hợp các dẫn xuất của 2,3-dihydropyrimindine-4(1H)-thione + Tổng hợp dẫn suất S-propargyl của 2,3-dihydropyrimidine-4(1H)-thione + Tổng hợp một số hợp chất 1,2,3-triazole có chứa vòng 2,3-dihydropyrimidine- 4(1H)-thione và vòng đường D-glucose.
Hệ dị vòng 2-thioxo-2,3-dihydropyrimidin-4(1H)-one 1. Giới thiệu về dihydropyrimidine và dẫn xuất 1. Dyhydropyrimidin Dihydropyrimidine là một hợp chất hữu cơ có công thức phân tử là C4H6N2. Nó là một loại hợp chất hữu cơ được tìm thấy trong các sản phẩm tự nhiên và có thể được tổng hợp từ pyrimidine thông qua quá trình hydro hóa.
Cấu trúc chung của các hợp chất 1,2-dihydropyrimidine được dẫn ra ở Hình 1. Cấu trúc của 1,2-dihydropyrimidine. Các dẫn xuất của dihydropyrimidine được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: y học, dược phẩm và công nghệ sinh học. Ví dụ, nó có thể được sử dụng để điều trị bệnh tim và đột quỵ, và là thành phần chính của một số thuốc kháng histamine.
Ngoài ra, dihydropyrimidine còn có các ứng dụng trong tổng hợp hữu cơ và công nghệ sinh học. Nó có thể được sử dụng để làm chất đệm trong quá trình tổng hợp phức tạp, và cũng có thể được sử dụng để điều chế các chất dẫn xuất pyrimidine. Đương nhiên, dihydropyrimidine cũng được tìm thấy trong một số loài thực vật và động vật, và được cho là có tác dụng sinh học nhất định. Hợp chất 2,3-dihydripyrimidin-4(1H)-thione 2,3-Dihydropyrimidine-4(1H)-one là một trong các dẫn xuất của dihydropyrimidine (DHPM).
Nó được tổng hợp thông qua phản ứng đa thành phầngiữa aldehyde, ketone và urea hoặc các chất dẫn xuất của urea (Hình 1. Cấu trúc của vòng 2,3-dihydropyrimidine-4(1H)-one. Cấu trúc hóa học của 2,3-dihydropyrimidine-4(1H)-one bao gồm một vòng pyrimidine có hai nguyên tử carbon bền với một nhóm ketone ở vị trí 4, một nhóm hydroxyl ở vị trí 3 và một nhóm methylene ở vị trí 2. Điều này giúp các chất này có khả năng tham gia vào nhiều phản ứng hóa học khác nhau để tạo ra các dẫn xuất có tính chất sinh học và hóa học đa dạng.
2,3-Dihydropyrimidine-4(1H)-one và các dẫn xuất của nó đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về dược học và hóa học, bao gồm các nghiên cứu về tác nhân chống đột biến và kháng bệnh, thuốc chống ung thư, thuốc giảm đau, chất kích thích sinh trưởng tế bào, chất ức chế men matrix metallicoproteinase và các chất khác. Các phương pháp tổng hợp các dẫn xuất DHPM 1. Phản ứng Biginelli Cách tiếp cận cổ điển để có được các dẫn xuất DHPM-thione 1.4 là phản ứng Biginelli, được mô tả lần đầu tiên vào năm 1893 [39, 40]. Phản ứng này liên quan đến sự ngưng tụ vòng hoá được xúc tác bằng acid của urea hoặc thiourea 1.2 và β-keto ester 1.
Phản ứng này vẫngần như chưa được khám phá cho đến những năm 1980 khi sức mạnh của các phản ứng đa thành phần được công nhận là một công cụ hữu ích cho các nhà tổng hợp hóa dược. Đặc tính hội tụ (convergent), cách hoạt động đơngiản, các chất đầu đa dạng về mặt phân tử và dễ tiếp cận cũng như sự tiết kiệm nguyên tử 3 (atom economy) của sự biến đổi này đã làm cho phản ứng Biginelli trở thành một trong những quá trình đa thành phần quan trọng nhất trong khám phá thuốc, liên tục thu hút sự quan tâm nghiên cứu do sự xuất hiện của khung DHPM trong các sản phẩm có hoạt tính sinh học và thuốc. Trong những năm qua, một số phương pháp cải tiến cho phản ứng Biginelli đã được đưa ra để tổng hợp các hợp chất này, bao gồm sự tổng hợp không dung môi [90, 101], bức xạ siêu âm [28], chiếu xạ vi sóng [11], chiếu xạ ánh sáng nhìn thấy [72], hoặc sử dụng chất xúc tác sinh học [66] và các chất xúc tác dị thể [8]. Các phương pháp tổng hợp được xúc tác khác bao gồm sử dụng các chất xúc tác khác nhau, chẳng hạn như Brönsted acid, bao gồm H3BO3 [53], formic acid [25], p-TsOH.
Các chất xúc tác khác của phản ứng Biginelli cũng có thể bao gồm các zeolite [91], đất sét [12, 13], các polymer hữu cơ [78], vật liệu mesoporous hữu cơ-vô cơ [36], chất lỏng ionic [7], v. Cơ chế phản ứng Biginelli a) Cơ chế phản ứng theo Sweet và Fissekis Cơ chế này được đề ra bởi Sweet vào năm 1973, giai đoạn đầu xảy ra quá trình ngưng tụ andol giữa benzaldehyde và ethylacetonacetate trong môi trường acid (H+) để tạo ra hợp chất trung gian là carbocation (Hình 1. Giai đoạn tiếp theo carboncation sẽ tác dụng với urea để tạo ra 4, sau đó 4 sẽ tách nước và đóng vòng và thu được hợp chất cuối cùng 5 [69]. Cơ chế phản ứng theo Sweet và Fissekis.
4 b) Cơ chế phản ứng theo Kappe Cơ chế này được Kappe đưa ra vào năm 1997, sơ đồ bắt đầu bằng việc xác định tốc độ bổ sung nucleophilic của urea và aldehyde. Sau đó quá trình ngưng tụ được xúc tác bằng việc bổ sung ion H+ tạo thành imine (Hình 1. Bước tiếp theo, β- ketoester thêm vào liên kết imine. Sau đó vòng được đóng lại dưới sự tấn công của nucleophile của amin lên nhóm carbonyl.
Bước cuối cùng xảy ra quá trình ngưng tụ thứ hai và tạo ra hợp chất Biginelli [47]. Cơ chế phản ứng theo Kappe. c) Cơ chế theo Souza Một cơ chế mới được đưa ra gần đây bởi Souza vào năm 2009. Ban đầu vẫn là sự ngưng tụ giữa benzaldehyde và urea trong môi trường acid nhưng hợp chất trung gian được tạo ra là N-acyliminium 2ʹ.
Sau đó hợp chất trung gian này tiếp tục phản ứng với ethyl acetoacetate 3 từ đó tạo thành sản phẩm 4, sản phẩm này được vòng hoá để cho 5 và cuối cùng là quá trình tách nước để tạo ra sản phẩm cuối cùng 6. Nếu lượng urea được thêm vào phản ứng dư thì một sản phẩm trung gian nữa sẽ hình thành đó là 2ʹʹ (Hình 1. Cơ chế phản ứng theo Souza. Đối với tổng hợp Biginelli, người ta chấp nhận ba cơ chế hợp lí: thông qua sự hình thành chất trung gian imine, thông qua sự hình thành chất trung gian enamine và thông qua sự hình thành chất trung gian Knoevanagel [45].
Mặc dù vậy, ta có thể giả định rằng phản ứng Biginelli, trên thực tế, là một phản ứng đa thành phần được xúc tác bởi urea thông qua việc tạo ra các phần tử iminium, được thuận lợi về mặt năng lượng [16, 36, 45]. Các phương pháp cải biên phản ứng Biginelli cổ điển Các phương pháp phát triển được áp dụng cho phản ứng Biginelli bao gồm việc làm biến đổi các thành phần tham gia phản ứng, bao gồm [36, 81, 86, 89] 6 Hình 1. Sự cải biên phương pháp tổng hợp Biginelli đa thành phần. Trong sự tiếp cận này, các iso(thio)urea 1.5 được thế ở O và S phản ứng với hợp chất carbonyl không no 1.6 được tạo sẵn sẽ cho sản phẩm ngưng tụ 1.7 trong môi trường base.
Thông qua phương pháp này, ta có thể cải thiện hiệu quả của tổng hợp Biginelli, đặc biệt là với các aldehyde béo và thơm bị cản trở bởi các nhóm thế ortho. Hợp chất carbonyl không no 1.6 thu được thông qua sự ngưng tụ Knoevenagel từ các β-keto ester 1.2 tương ứng trong một tổng hợp riêng biệt. Sự phân cắt liên kết thioether sẽ cho 1. (2) Sự biến đổi thành phần aldehyde Phản ứng Biginelli ban đầu được mô tả với các aldehyde thơm.
Mặc dù phản ứng với các aldehyde béo kém hiệu quả hơn, song sự tham gia của chúng vào các phản ứng đa thành phần hiện đang phổ biến, do vậy, việc sử dụng các aldehyde béo không được coi là biến đổi thành phần aldehyde. Chẳng hạn, việc sử dụng các acylal 1.8, nhóm chức carbonyl được che giấu này, cùng với ethyl acetoacetate 1.3 và urea hoặc thiourea 1.1 được sử dụng để tạo ra dihydropyrimidinones 1.4 dưới các điều kiện xúc tác acid (như 12-tungstophosphoric acid (PW), 12-molybdophosphoric acid (PMo) hoặc zinc chloride và được thực hiện kiểu one-pot không có dung môi [56]. 7 Một sự biến đổi aldehyde khác bao gồm việc thông qua quá trình tuần tự oxygen hóa Kornblum/phản ứng Biginelli [42]. Phương pháp này bao gồm sự tạo thành in situ của các benzaldehyde 1.2 từ benzyl halide 1.9, dưới các điều kiện không có chất xúc tác, rồi được biến đổi tiếp theo thành dihydropyrimidones 1.4 bằng sự chiếu xạ vi sóng (microwave, MW).
Phạm vi sử dụng các chất đầu của phản ứng được đánh giá bằng cách sử dụng các halogen benzyl thay thế khác nhau. Nói chung, cả nhóm thế hút electron và đẩy electron ở chất nền benzyl đều phản ứng thành công và cho các sản phẩm mong muốn với hiệu suất cao. (3) Sự biến đổi thành phần β-keto ester Các hợp chất 1,3-diketone đã được sử dụng rộng rãi làm chất nền cho phản ứng Biginelli như là thành phần có thể enol hoá được. Chẳng hạn, phản ứng ngưng tụ Biginelli one-pot của aldehyde 1.2, hợp chất 1,3-dicarbonyl 1.10 và urea hoặc thiourea 1.1 dưới các điều kiện không có dung môi khi sử dụng ammonium chloride làm chất xúc tác sẽ cho sản phẩm 1.
Đặc biệt, việc sử dụng acetylacetone làm hợp chất dicarbonyl cho 3,4-dihydropyrimidin-2(1H)-one 1.11 tương ứng với hiệu suất tốt [51]. Montmorillonite [99], Bi(NO3)3·5H2O [86] hoặc ZrCl4 [89], cũng được sử dụng làm chất xúc tác hiệu quả để tổng hợp 3,4-dihydropirimidine-2(1H)-one trong phản ứng Biginelli ba thành phần one-pot trong điều kiện không có dung môi.