Đánh Giá Tác Dụng Chống Oxi Hóa và Ảnh Hưởng Tới Hoạt Tính CYP2E1 Của Một Số Dịch Chiết Dược Liệu

Khóa luận đánh giá tác dụng chống oxi hóa và ảnh hưởng tới hoạt tính cyp2e1 của dịch chiết dược liệu, cung cấp thông tin hữu ích cho nghiên cứu.

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

61
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

3. DANH MỤC CÁC BẢNG

4. DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

5. ĐẶT VẤN ĐỀ

6. TỔNG QUAN VỀ CÁC DƯỢC LIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

6.1. Decaspermum gracilentum - Thập tử mảnh

6.2. Uvaria siamensis - Bù dẻ

6.3. Syzygium attopeuense - Rì rì lá lớn

6.4. Cratoxylum cochinchinensis - Thành ngạnh nam

6.5. Alphonsea tonkinensis - Thâu lĩnh

6.6. Aspidistra letreae - Tỏi đá lê trễ

6.7. Glycosmis parviflora - Cơm rượu hoa nhỏ

6.8. Pogostemon auricularius - Tu hùng tai

7. TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH CHỐNG OXI HÓA CỦA THỰC VẬT VÀ CÁC HỢP CHẤT THIÊN NHIÊN

7.1. Phương pháp đánh giá khả năng chống oxi hóa dựa trên khả năng trao đổi nguyên tử hydro (HAT)

8. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

8.1. Nguyên vật liệu, thiết bị

8.2. Nguyên liệu nghiên cứu

8.3. Dụng cụ, hóa chất, địa điểm nghiên cứu

8.4. Nội dung nghiên cứu

8.5. Phương pháp nghiên cứu

8.5.1. Thiết kế nghiên cứu

8.5.2. Nghiên cứu về ảnh hưởng tới hoạt tính enzym CYP2E1 từ gan chuột của các mẫu dịch chiết dược liệu

9. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ

9.1. Tác dụng chống oxi của các mẫu dịch chiết dược liệu

9.1.1. Tác dụng chống oxi hóa của dịch chiết dược liệu bằng phương pháp DPPH

9.1.2. Tác dụng chống oxi hóa của dịch chiết dược liệu bằng phương pháp ABTS

9.2. Ảnh hưởng tới hoạt tính enzym CYP2E1 từ gan chuột của các mẫu dịch chiết dược liệu

9.2.1. Ảnh hưởng của DMSO đến hoạt tính enzym CYP2E1

9.2.2. Ảnh hưởng của một số dịch chiết dược liệu tới hoạt tính enzym CYP2E1

10. NHẬN XÉT/BÀN LUẬN

10.1. Về dược liệu

10.2. Về tác dụng chống oxi hóa in vitro

10.3. Về ảnh hưởng của một số dịch chiết dược liệu tới hoạt tính enzym CYP2E1

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Dụng Chống Oxi Hóa Của Dược Liệu

Tác dụng chống oxi hóa của dược liệu đã được nghiên cứu rộng rãi trong những năm gần đây. Nhiều loại dược liệu tự nhiên chứa các hợp chất có khả năng trung hòa gốc tự do, giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do stress oxi hóa. Các nghiên cứu cho thấy rằng các hợp chất như flavonoid, polyphenol và vitamin C có mặt trong nhiều loại dược liệu có tác dụng chống oxi hóa mạnh mẽ. Việc đánh giá tác dụng này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của dược liệu mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm bảo vệ sức khỏe từ thiên nhiên.

1.1. Các Hợp Chất Chống Oxi Hóa Trong Dược Liệu

Nhiều dược liệu chứa các hợp chất như flavonoid, polyphenol và carotenoid, có khả năng chống oxi hóa mạnh. Những hợp chất này giúp ngăn chặn sự hình thành gốc tự do và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương. Ví dụ, flavonoid có trong trà xanh và nho đỏ đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ tế bào và giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Dược Liệu Trong Y Học Hiện Đại

Dược liệu không chỉ được sử dụng trong y học cổ truyền mà còn ngày càng được ứng dụng trong y học hiện đại. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các dược liệu có tác dụng chống oxi hóa có thể hỗ trợ điều trị các bệnh lý như ung thư, tiểu đường và bệnh tim mạch. Việc sử dụng dược liệu trong điều trị bệnh đang trở thành xu hướng mới trong y học.

II. Vấn Đề Stress Oxi Hóa Và Tác Động Đến Hoạt Tính CYP2E1

Stress oxi hóa là một trong những nguyên nhân chính gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng. Enzym CYP2E1 đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa thuốc và các chất độc hại trong cơ thể. Tuy nhiên, sự gia tăng hoạt tính của CYP2E1 có thể dẫn đến sự hình thành các chất chuyển hóa độc hại, gây tổn thương tế bào và góp phần vào sự phát triển của bệnh ung thư. Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa stress oxi hóa và hoạt tính CYP2E1 là rất cần thiết để phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả.

2.1. Stress Oxi Hóa Và Các Bệnh Lý Liên Quan

Stress oxi hóa xảy ra khi có sự mất cân bằng giữa sản xuất gốc tự do và khả năng chống oxi hóa của cơ thể. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng stress oxi hóa có liên quan đến các bệnh như ung thư, tiểu đường và bệnh tim mạch. Việc kiểm soát stress oxi hóa có thể giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh này.

2.2. Vai Trò Của CYP2E1 Trong Chuyển Hóa Thuốc

CYP2E1 là một enzym quan trọng trong quá trình chuyển hóa nhiều loại thuốc và chất độc hại. Hoạt tính của CYP2E1 có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chế độ ăn uống, môi trường và tình trạng sức khỏe. Sự gia tăng hoạt tính CYP2E1 có thể dẫn đến sự hình thành các chất chuyển hóa độc hại, gây tổn thương tế bào và góp phần vào sự phát triển của bệnh.

III. Phương Pháp Đánh Giá Tác Dụng Chống Oxi Hóa Của Dược Liệu

Để đánh giá tác dụng chống oxi hóa của dược liệu, nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng. Các phương pháp này giúp xác định khả năng trung hòa gốc tự do của các mẫu dịch chiết dược liệu. Hai phương pháp phổ biến nhất là DPPH và ABTS, được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu dược liệu. Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp đánh giá hiệu quả của dược liệu mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc phát triển sản phẩm mới.

3.1. Phương Pháp DPPH Trong Đánh Giá Tác Dụng Chống Oxi Hóa

Phương pháp DPPH là một trong những phương pháp phổ biến nhất để đánh giá khả năng chống oxi hóa của các hợp chất. DPPH là một gốc tự do ổn định, và khi phản ứng với các chất chống oxi hóa, nó sẽ thay đổi màu sắc, cho phép xác định khả năng trung hòa gốc tự do của mẫu thử.

3.2. Phương Pháp ABTS Trong Đánh Giá Tác Dụng Chống Oxi Hóa

Phương pháp ABTS cũng là một phương pháp hiệu quả để đánh giá khả năng chống oxi hóa. Phương pháp này sử dụng gốc ABTS.+, và sự thay đổi màu sắc của dung dịch cho phép xác định khả năng trung hòa gốc tự do của các mẫu dịch chiết dược liệu. Cả hai phương pháp DPPH và ABTS đều cung cấp thông tin quan trọng về hoạt tính chống oxi hóa của dược liệu.

IV. Ảnh Hưởng Của Dịch Chiết Dược Liệu Đến Hoạt Tính CYP2E1

Nghiên cứu về ảnh hưởng của dịch chiết dược liệu đến hoạt tính CYP2E1 là rất quan trọng. Các mẫu dịch chiết từ dược liệu có thể tác động đến hoạt tính của enzym này, từ đó ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa thuốc và các chất độc hại trong cơ thể. Việc đánh giá ảnh hưởng này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của dược liệu mà còn mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị.

4.1. Tác Động Của Dịch Chiết Đến Hoạt Tính CYP2E1

Nghiên cứu cho thấy rằng một số dịch chiết dược liệu có khả năng ức chế hoặc kích thích hoạt tính CYP2E1. Điều này có thể dẫn đến sự thay đổi trong quá trình chuyển hóa thuốc và các chất độc hại, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và an toàn của thuốc.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ảnh Hưởng Của Dược Liệu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một số dịch chiết dược liệu có tác dụng tích cực trong việc điều chỉnh hoạt tính CYP2E1. Việc sử dụng các dược liệu này có thể giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của các chất độc hại và cải thiện hiệu quả điều trị.

V. Kết Luận Về Tác Dụng Chống Oxi Hóa Và Hoạt Tính CYP2E1

Tác dụng chống oxi hóa của dược liệu và ảnh hưởng đến hoạt tính CYP2E1 là hai yếu tố quan trọng trong nghiên cứu dược liệu. Việc hiểu rõ mối liên hệ giữa chúng không chỉ giúp phát triển các sản phẩm bảo vệ sức khỏe mà còn mở ra hướng đi mới trong việc điều trị các bệnh lý liên quan đến stress oxi hóa. Nghiên cứu này cung cấp thông tin quý giá cho việc phát triển các sản phẩm từ dược liệu, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Dược Liệu

Nghiên cứu về dược liệu sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các sản phẩm mới. Việc tìm kiếm và đánh giá các dược liệu có tác dụng chống oxi hóa mạnh mẽ sẽ giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các dược liệu có tác dụng chống oxi hóa và ảnh hưởng đến hoạt tính CYP2E1. Việc xác định cơ chế hoạt động của các hợp chất trong dược liệu sẽ giúp phát triển các sản phẩm điều trị hiệu quả hơn trong tương lai.

14/08/2025
Nguyễn trịnh quỳnh anh đánh giá tác dụng chống oxi hóa và ảnh hƣởng tới hoạt tính cyp2e1 của một số dịch chiết dƣợc liệu khóa luận tốt nghiệp dƣợc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và lối sống hiện đại, là chất lượng môi trường ngày càng đi xuống đi kèm theo đó là sự gia tăng của hàng loạt các căn bệnh không lây nhiễm: tim mạch, đái tháo đường, các bệnh hô hấp như hen phế quản và viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, trầm cảm, viêm khớp dạng thấp. Đặc biệt là bệnh ung thư, được coi là căn bệnh thế kỷ hiện nay với tỷ lệ mắc có xu hướng tăng nhanh trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), năm 2020 toàn thế giới ghi nhận gần 19,3 triệu ca mắc ung thư mới, tăng khoảng 2 triệu ca so với năm 2018. Số ca mắc ung thư mới ở Việt Nam năm 2000 là 68000 ca, năm 2010 là 126000 ca, năm 2018 là gần 165000 ca và năm 2020 con số lên tới 182563 ca.

Các căn bệnh không lây nhiễm được liệt kê ở trên, trong một số các nghiên cứu đã cho thấy, có sự góp mặt của tình trạng stress oxi hóa và gốc tự do trong cơ thể [15], [18], [27], [33], [71], [83], [84], [92]. Đối với CYP2E1, là enzym đóng vai trò chuyển hóa các thuốc (paracetamol, isoniazid), các dung môi công nghiệp (ethanol, cloroform, aceton) và các tiền chất ung thư (benzen, styren), một số nghiên cứu đã đưa ra mối liên hệ giữa biểu hiện gen CYP2E1 và căn bệnh ung thư [31], [79], [86]. Đây là những hướng gợi ý để tìm kiếm, sàng lọc và nghiên cứu các hoạt chất phòng ngừa và điều trị bệnh không lây nhiễm. Dược liệu là một nguồn nghiên cứu nhiều tiềm năng nhờ sở hữu nhiều hoạt chất có cấu trúc phức tạp, có tính chất hứa hẹn như chống oxi hóa, chống viêm, gây độc tế bào khối u.

Thêm vào đó, Việt Nam là quốc gia có nguồn dược liệu phong phú với bề dày kinh nghiệm sử dụng dược liệu trong y học cổ truyền và y học dân gian. Tuy nhiên, cơ sở khoa học để sử dụng các cây thuốc là các nghiên cứu đầy đủ liên quan đến hoạt tính sinh học của các dược liệu và các hoạt chất từ dược liệu của Việt Nam lại đang thiếu hụt nhiều. Do vậy, nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin về các phương pháp đánh giá hoạt tính và một số hoạt tính của dược liệu, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tác dụng chống oxi hóa và ảnh hưởng tới hoạt tính CYP2E1 của một số dịch chiết dược liệu” với các mục tiêu sau. Mục tiêu 1: Đánh giá tác dụng chống oxi hóa in vitro của một số dịch chiết dược liệu bằng hai phương pháp dọn gốc tự do DPPH.

và phương pháp trung hòa gốc tự do ABTS. Mục tiêu 2: Đánh giá ảnh hưởng của một số dịch chiết dược liệu tới hoạt tính CYP2E1 có trong microsom phân lập từ gan chuột cống. Tổng quan về các dƣợc liệu đƣợc sử dụng trong nghiên cứu 1. Decaspermum gracilentum - Thập tử mảnh Thập tử mảnh, còn gọi là Trâm bụi [7], Trâm lụa [8], có tên khoa học là Decaspermum gracilentum (tên khác là Eugenia gracilenta [6], [13] hay Eugenia esquirolii hay Decaspermum esquirolii hay Syzygium gracilentum [13]), thuộc chi Decaspermum, họ Sim (Myrtaceae) [6] [13].

Thập tử mảnh phân bố ở đông nam Trung Quốc (các tỉnh Hải Nam, Quảng Đông), Đài Loan và Đông Nam Á như Việt Nam [72]. Tại Việt Nam, loài này phân bố ở khá nhiều tỉnh như Ninh Bình [8], Hà Tĩnh [7], Quảng Ninh, Kon Tum [6], Quảng Trị [12] Cho đến nay, vẫn còn rất ít nghiên cứu về loài Decaspermum gracilentum. Nghiên cứu khả năng chống oxi hóa của bốn hoạt chất phloroglucinol và ethyl 2,4,6- trihydroxybenzoat có trong dịch chiết ethanol (EtOH) từ lá loài Thập tử mảnh cho thấy cả bốn hoạt chất này đều có khả năng trung hòa gốc tự do ABTS. Lá của Thập tử mảnh đã được sử dụng trong y học Trung Quốc để điều trị kiết lỵ, các bệnh về da và phong thấp [77].

Uvaria siamensis - Bù dẻ Bù dẻ có tên khoa học là Uvaria siamensis (tên khác là Rauwenhoffia siamensis hoặc Melodorum siamensis [41], [71] ) thuộc chi Uvaria, họ Na (Annonaceae). Hiện nay còn một số ý kiến chưa thống nhất về tên khoa học của của Bù dẻ [90]. Tuy nhiên ở nghiên cứu này, vẫn coi ba tên được đề cập ở trên là cùng một loài Uvaria siamensis do một số hệ thống phân loại vẫn chấp nhận. Thành phần hóa học của Bù dẻ gồm các dẫn chất chalcon, dihydrochalcon, flavonoid, các este thơm, amid thơm [41], [66].

Thành phần hóa học của Bù dẻ có nhiều hoạt chất có khả năng gây độc tế bào, đặc biệt là các dẫn chất chalcon và dihydrochalcon [66], [71]. Ba chalcone 8′′,9′-dihydrowelwischin, uvarin B, uvarin C và các chất dependensin, welwischin từ dịch chiết rễ Bù dẻ cho hoạt tính ức chế in vitro với Plasmodium falciparum [71]. Dịch chiết từ gỗ của Bù dẻ có khả năng ức chế tốt acetylcholinesterase, thể hiện tiềm năng trong nghiên cứu phát triển các thuốc điều trị triệu chứng của thoái hóa thần kinh [47]. 2 Bù dẻ được ứng dụng khá nhiều trong y học cổ truyền Thái Lan.

Gỗ và rễ được sử dụng để điều trị côn trùng cắn, sốt và polyp mũi; trong khi đó lá cây được dùng khi khó tiêu và quả tươi để trị mề đay [41]. Syzygium attopeuense - Rì rì lá lớn Rì rì lá lớn có tên khoa học là Syzygium attopeuense (hay Eugenia attopeuensis), thuộc chi Trâm (Syzygium) họ Sim (Myrtaceae) [6], [13]. Rì rì lá lớn phân bố ở Thái Lan, Lào và Việt Nam [74]. Tại Việt Nam, loài này được ghi nhận ở Thanh Hóa [85], Nha Trang [6], Gia Lai, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Phan Rang [74].

Đến nay, chưa có nghiên cứu nào công bố thành phần hóa học, tác dụng sinh học và ứng dụng trong y học cổ truyền của loài Rì rì lá lớn. Chỉ các nghiên cứu về một số loài cùng chi với Rì rì lá lớn. Ví dụ, đinh hương có tên khoa học là Eugenia caryophyllata [6], có chứa các chất như eugenol, β-caryophyllen, benzyl alcohol, humulenol [19]. Tinh dầu Đinh hương có hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, kháng virus, chống oxi hóa, gây độc tế bào trên một số dòng tế bào ung thư, khả năng gây tê, chống côn trùng [19].

Vối rừng có tên khoa học là Syzygium cumini [6]; chứa các terpenoid, flavonid và các phenoli; có nhiều hoạt tính như chống oxi hóa, kháng khuẩn, hoạt tính làm giảm glucose máu, giảm lipid máu, bảo vệ gan, chống viêm khớp, [75]. Công dụng của loài Rì rì lá lớn chưa được đề cập trong y học cổ truyền Việt Nam, tuy nhiên các loài trong cùng chi lại đóng vai trò khá lớn. Vị thuốc Đinh hương được sử dụng cho các chứng cam răng, nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng [5]. Vỏ thân và vỏ cảnh Trâm mốc trị đau bụng, đầy chướng, nôn mửa, lỵ, tiêu chảy; lá nấu nước uống hỗ trợ tiêu hóa; hạt có thể trị đái tháo đường [3].

Cratoxylum cochinchinensis - Thành ngạnh nam Thành ngạnh nam tên khoa học là Cratoxylum cochinchinensis (hay Hypericum cochinchinensis hoặc Cratoxylum polyanthum) thuộc họ Bứa (Guttiferae) [6]. Loài này phân bố ở Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Việt Nam [2], [4]. Thành ngạnh nam chủ yếu có chứa các triterpenoid và các xanthon [17], [60], [82]. Một số xanthon phân lập từ dịch chiết của Thành ngạnh nam cho khả năng chống oxi hóa với phương pháp dọn gốc tự do DPPH.

và ức chế quá trình peroxi hóa lipid [82], hoạt tính ức chế sự phát triển của vi khuẩn [50] và hoạt tính gây độc tế bào với các dòng tế bào ung thư [50]. 3 Thành ngạnh nam là một vị thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền và y học dân gian Việt Nam.TS Phạm Hoàng Hộ, nhánh của Thành ngạnh nam trị bệnh da, ghẻ ngứa, bỏng, vết thương; vỏ dùng để trị các vấn đề tiêu hóa [6]. Ở Thái Lan, loài này có tên là “tue-gliang”, được sử dụng để điều trị sốt, ho, tiêu chảy, mẩn ngứa, các bệnh về đường tiêu hóa [50]. Alphonsea tonkinensis - Thâu lĩnh Thâu lĩnh hay An phong Bắc bộ, có tên khoa học là Alphonsea tonkinensis, thuộc chi Thâu lĩnh (Alphonsea), họ Na (Annonaceae) [6], [13].

Thâu lĩnh phân bố ở Việt Nam và Lào [81]. Tinh dầu cất từ lá của Thâu lĩnh chứa chủ yếu là β-caryophyllen, β-elemen và caryophyllen oxid; tinh dầu cất từ thân cây có thành phần chính là germacren D, β- caryophyllen, α-pinen, β-elemen, and β-pinen [40]. Hoạt chất 3-hydroxy-7,8-dehydro- β-ionon được phân lập từ dịch chiết của Thâu lĩnh có hoạt tính chống viêm in vitro [58]. Trong khi đó, hai hoạt chất 8-oxopseudopalmatin và 3-hydroxy-7,8-dehydro-β- ionon cho thấy khả năng gây độc tế bào in vitro [58].

Phần dịch chiết methanol (MeOH), dịch chiết pha nước của Thâu lĩnh (lá và thân) và hoạt chất được phân lập là N-trans-feruloyltyramin cho khả năng chống oxi hóa in vitro [59]. Hai alkaloid được phân lập từ dịch chiết MeOH của lá và thân có hoạt tính ức chế acetylcholinesterase, hứa hẹn tiềm năng trong phát triển thuốc điều trị căn bệnh Alzheimer [59]. Đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào công bố về công dụng trong y học cổ truyền của Thâu lĩnh. Aspidistra letreae - Tỏi đá lê trễ Được xác định là loài đặc hữu của Việt Nam, tìm thấy vào năm 2016.

Tên của Tỏi đá lê trễ đặt theo tên của giảng viên Lê Thị Trễ từ Đại học Huế, một tác giả trong nhóm nghiên cứu lúc đó [48]. Tỏi đá lê trễ có tên khoa học là Aspidistra letreae, thuộc chi Tỏi rừng (Aspidistra), họ Thiên môn đông (Asparagaceae) [48] Loài Tỏi đá lê trễ được nhóm nghiên cứu tìm thấy tại xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh và xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị [48]. Cho đến nay, có rất ít các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của Tỏi đá lê trễ. Trong Tỏi đá lê trễ có thành phần chính là các steroidal saponin, các xanthon, terpenoid, coumarin và α-tocopherol [36].

Ba steroidal saponin có hoạt tính gây độc tế bào in vitro [36]. Aspiletreins A có khả năng ức chế in vitro sự xâm lấn 4 và di căn của tế bào ung thư phổi không tế bào nhỏ [57]. Hoạt chất xanthon là Aspidxanthon A cho khả năng chống oxi hóa cao [37]. Công dụng của Tỏi đá lê trễ chưa được ghi nhận trong y học cổ truyền và y học dân gian Việt Nam.

Tuy nhiên, chi Tỏi rừnga đã được sử dụng trong nền y học cổ truyền của nhiều nước. Ví dụ, bộ phận dưới mặt đất của Aspidistra elatior đã được sử dụng trong bài thuốc dân gian Nhật Bản để long đờm, lợi tiểu và làm thuốc bổ [56]. Glycosmis parviflora - Cơm rƣợu hoa nhỏ Loài Cơm rượu hoa nhỏ có tên khoa học là Glycosmis parviflora (hay Limonia parviflora), thuộc chi Cơm rượu (Glycosmis), họ Cam quýt (Rutaceae) [6], [13].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ