ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và lối sống hiện đại, là chất lượng môi trường ngày càng đi xuống đi kèm theo đó là sự gia tăng của hàng loạt các căn bệnh không lây nhiễm: tim mạch, đái tháo đường, các bệnh hô hấp như hen phế quản và viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, trầm cảm, viêm khớp dạng thấp. Đặc biệt là bệnh ung thư, được coi là căn bệnh thế kỷ hiện nay với tỷ lệ mắc có xu hướng tăng nhanh trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC), năm 2020 toàn thế giới ghi nhận gần 19,3 triệu ca mắc ung thư mới, tăng khoảng 2 triệu ca so với năm 2018. Số ca mắc ung thư mới ở Việt Nam năm 2000 là 68000 ca, năm 2010 là 126000 ca, năm 2018 là gần 165000 ca và năm 2020 con số lên tới 182563 ca.
Các căn bệnh không lây nhiễm được liệt kê ở trên, trong một số các nghiên cứu đã cho thấy, có sự góp mặt của tình trạng stress oxi hóa và gốc tự do trong cơ thể [15], [18], [27], [33], [71], [83], [84], [92]. Đối với CYP2E1, là enzym đóng vai trò chuyển hóa các thuốc (paracetamol, isoniazid), các dung môi công nghiệp (ethanol, cloroform, aceton) và các tiền chất ung thư (benzen, styren), một số nghiên cứu đã đưa ra mối liên hệ giữa biểu hiện gen CYP2E1 và căn bệnh ung thư [31], [79], [86]. Đây là những hướng gợi ý để tìm kiếm, sàng lọc và nghiên cứu các hoạt chất phòng ngừa và điều trị bệnh không lây nhiễm. Dược liệu là một nguồn nghiên cứu nhiều tiềm năng nhờ sở hữu nhiều hoạt chất có cấu trúc phức tạp, có tính chất hứa hẹn như chống oxi hóa, chống viêm, gây độc tế bào khối u.
Thêm vào đó, Việt Nam là quốc gia có nguồn dược liệu phong phú với bề dày kinh nghiệm sử dụng dược liệu trong y học cổ truyền và y học dân gian. Tuy nhiên, cơ sở khoa học để sử dụng các cây thuốc là các nghiên cứu đầy đủ liên quan đến hoạt tính sinh học của các dược liệu và các hoạt chất từ dược liệu của Việt Nam lại đang thiếu hụt nhiều. Do vậy, nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin về các phương pháp đánh giá hoạt tính và một số hoạt tính của dược liệu, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tác dụng chống oxi hóa và ảnh hưởng tới hoạt tính CYP2E1 của một số dịch chiết dược liệu” với các mục tiêu sau. Mục tiêu 1: Đánh giá tác dụng chống oxi hóa in vitro của một số dịch chiết dược liệu bằng hai phương pháp dọn gốc tự do DPPH.
và phương pháp trung hòa gốc tự do ABTS. Mục tiêu 2: Đánh giá ảnh hưởng của một số dịch chiết dược liệu tới hoạt tính CYP2E1 có trong microsom phân lập từ gan chuột cống. Tổng quan về các dƣợc liệu đƣợc sử dụng trong nghiên cứu 1. Decaspermum gracilentum - Thập tử mảnh Thập tử mảnh, còn gọi là Trâm bụi [7], Trâm lụa [8], có tên khoa học là Decaspermum gracilentum (tên khác là Eugenia gracilenta [6], [13] hay Eugenia esquirolii hay Decaspermum esquirolii hay Syzygium gracilentum [13]), thuộc chi Decaspermum, họ Sim (Myrtaceae) [6] [13].
Thập tử mảnh phân bố ở đông nam Trung Quốc (các tỉnh Hải Nam, Quảng Đông), Đài Loan và Đông Nam Á như Việt Nam [72]. Tại Việt Nam, loài này phân bố ở khá nhiều tỉnh như Ninh Bình [8], Hà Tĩnh [7], Quảng Ninh, Kon Tum [6], Quảng Trị [12] Cho đến nay, vẫn còn rất ít nghiên cứu về loài Decaspermum gracilentum. Nghiên cứu khả năng chống oxi hóa của bốn hoạt chất phloroglucinol và ethyl 2,4,6- trihydroxybenzoat có trong dịch chiết ethanol (EtOH) từ lá loài Thập tử mảnh cho thấy cả bốn hoạt chất này đều có khả năng trung hòa gốc tự do ABTS. Lá của Thập tử mảnh đã được sử dụng trong y học Trung Quốc để điều trị kiết lỵ, các bệnh về da và phong thấp [77].
Uvaria siamensis - Bù dẻ Bù dẻ có tên khoa học là Uvaria siamensis (tên khác là Rauwenhoffia siamensis hoặc Melodorum siamensis [41], [71] ) thuộc chi Uvaria, họ Na (Annonaceae). Hiện nay còn một số ý kiến chưa thống nhất về tên khoa học của của Bù dẻ [90]. Tuy nhiên ở nghiên cứu này, vẫn coi ba tên được đề cập ở trên là cùng một loài Uvaria siamensis do một số hệ thống phân loại vẫn chấp nhận. Thành phần hóa học của Bù dẻ gồm các dẫn chất chalcon, dihydrochalcon, flavonoid, các este thơm, amid thơm [41], [66].
Thành phần hóa học của Bù dẻ có nhiều hoạt chất có khả năng gây độc tế bào, đặc biệt là các dẫn chất chalcon và dihydrochalcon [66], [71]. Ba chalcone 8′′,9′-dihydrowelwischin, uvarin B, uvarin C và các chất dependensin, welwischin từ dịch chiết rễ Bù dẻ cho hoạt tính ức chế in vitro với Plasmodium falciparum [71]. Dịch chiết từ gỗ của Bù dẻ có khả năng ức chế tốt acetylcholinesterase, thể hiện tiềm năng trong nghiên cứu phát triển các thuốc điều trị triệu chứng của thoái hóa thần kinh [47]. 2 Bù dẻ được ứng dụng khá nhiều trong y học cổ truyền Thái Lan.
Gỗ và rễ được sử dụng để điều trị côn trùng cắn, sốt và polyp mũi; trong khi đó lá cây được dùng khi khó tiêu và quả tươi để trị mề đay [41]. Syzygium attopeuense - Rì rì lá lớn Rì rì lá lớn có tên khoa học là Syzygium attopeuense (hay Eugenia attopeuensis), thuộc chi Trâm (Syzygium) họ Sim (Myrtaceae) [6], [13]. Rì rì lá lớn phân bố ở Thái Lan, Lào và Việt Nam [74]. Tại Việt Nam, loài này được ghi nhận ở Thanh Hóa [85], Nha Trang [6], Gia Lai, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Phan Rang [74].
Đến nay, chưa có nghiên cứu nào công bố thành phần hóa học, tác dụng sinh học và ứng dụng trong y học cổ truyền của loài Rì rì lá lớn. Chỉ các nghiên cứu về một số loài cùng chi với Rì rì lá lớn. Ví dụ, đinh hương có tên khoa học là Eugenia caryophyllata [6], có chứa các chất như eugenol, β-caryophyllen, benzyl alcohol, humulenol [19]. Tinh dầu Đinh hương có hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, kháng virus, chống oxi hóa, gây độc tế bào trên một số dòng tế bào ung thư, khả năng gây tê, chống côn trùng [19].
Vối rừng có tên khoa học là Syzygium cumini [6]; chứa các terpenoid, flavonid và các phenoli; có nhiều hoạt tính như chống oxi hóa, kháng khuẩn, hoạt tính làm giảm glucose máu, giảm lipid máu, bảo vệ gan, chống viêm khớp, [75]. Công dụng của loài Rì rì lá lớn chưa được đề cập trong y học cổ truyền Việt Nam, tuy nhiên các loài trong cùng chi lại đóng vai trò khá lớn. Vị thuốc Đinh hương được sử dụng cho các chứng cam răng, nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng [5]. Vỏ thân và vỏ cảnh Trâm mốc trị đau bụng, đầy chướng, nôn mửa, lỵ, tiêu chảy; lá nấu nước uống hỗ trợ tiêu hóa; hạt có thể trị đái tháo đường [3].
Cratoxylum cochinchinensis - Thành ngạnh nam Thành ngạnh nam tên khoa học là Cratoxylum cochinchinensis (hay Hypericum cochinchinensis hoặc Cratoxylum polyanthum) thuộc họ Bứa (Guttiferae) [6]. Loài này phân bố ở Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Việt Nam [2], [4]. Thành ngạnh nam chủ yếu có chứa các triterpenoid và các xanthon [17], [60], [82]. Một số xanthon phân lập từ dịch chiết của Thành ngạnh nam cho khả năng chống oxi hóa với phương pháp dọn gốc tự do DPPH.
và ức chế quá trình peroxi hóa lipid [82], hoạt tính ức chế sự phát triển của vi khuẩn [50] và hoạt tính gây độc tế bào với các dòng tế bào ung thư [50]. 3 Thành ngạnh nam là một vị thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền và y học dân gian Việt Nam.TS Phạm Hoàng Hộ, nhánh của Thành ngạnh nam trị bệnh da, ghẻ ngứa, bỏng, vết thương; vỏ dùng để trị các vấn đề tiêu hóa [6]. Ở Thái Lan, loài này có tên là “tue-gliang”, được sử dụng để điều trị sốt, ho, tiêu chảy, mẩn ngứa, các bệnh về đường tiêu hóa [50]. Alphonsea tonkinensis - Thâu lĩnh Thâu lĩnh hay An phong Bắc bộ, có tên khoa học là Alphonsea tonkinensis, thuộc chi Thâu lĩnh (Alphonsea), họ Na (Annonaceae) [6], [13].
Thâu lĩnh phân bố ở Việt Nam và Lào [81]. Tinh dầu cất từ lá của Thâu lĩnh chứa chủ yếu là β-caryophyllen, β-elemen và caryophyllen oxid; tinh dầu cất từ thân cây có thành phần chính là germacren D, β- caryophyllen, α-pinen, β-elemen, and β-pinen [40]. Hoạt chất 3-hydroxy-7,8-dehydro- β-ionon được phân lập từ dịch chiết của Thâu lĩnh có hoạt tính chống viêm in vitro [58]. Trong khi đó, hai hoạt chất 8-oxopseudopalmatin và 3-hydroxy-7,8-dehydro-β- ionon cho thấy khả năng gây độc tế bào in vitro [58].
Phần dịch chiết methanol (MeOH), dịch chiết pha nước của Thâu lĩnh (lá và thân) và hoạt chất được phân lập là N-trans-feruloyltyramin cho khả năng chống oxi hóa in vitro [59]. Hai alkaloid được phân lập từ dịch chiết MeOH của lá và thân có hoạt tính ức chế acetylcholinesterase, hứa hẹn tiềm năng trong phát triển thuốc điều trị căn bệnh Alzheimer [59]. Đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào công bố về công dụng trong y học cổ truyền của Thâu lĩnh. Aspidistra letreae - Tỏi đá lê trễ Được xác định là loài đặc hữu của Việt Nam, tìm thấy vào năm 2016.
Tên của Tỏi đá lê trễ đặt theo tên của giảng viên Lê Thị Trễ từ Đại học Huế, một tác giả trong nhóm nghiên cứu lúc đó [48]. Tỏi đá lê trễ có tên khoa học là Aspidistra letreae, thuộc chi Tỏi rừng (Aspidistra), họ Thiên môn đông (Asparagaceae) [48] Loài Tỏi đá lê trễ được nhóm nghiên cứu tìm thấy tại xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh và xã Hướng Hiệp, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị [48]. Cho đến nay, có rất ít các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của Tỏi đá lê trễ. Trong Tỏi đá lê trễ có thành phần chính là các steroidal saponin, các xanthon, terpenoid, coumarin và α-tocopherol [36].
Ba steroidal saponin có hoạt tính gây độc tế bào in vitro [36]. Aspiletreins A có khả năng ức chế in vitro sự xâm lấn 4 và di căn của tế bào ung thư phổi không tế bào nhỏ [57]. Hoạt chất xanthon là Aspidxanthon A cho khả năng chống oxi hóa cao [37]. Công dụng của Tỏi đá lê trễ chưa được ghi nhận trong y học cổ truyền và y học dân gian Việt Nam.
Tuy nhiên, chi Tỏi rừnga đã được sử dụng trong nền y học cổ truyền của nhiều nước. Ví dụ, bộ phận dưới mặt đất của Aspidistra elatior đã được sử dụng trong bài thuốc dân gian Nhật Bản để long đờm, lợi tiểu và làm thuốc bổ [56]. Glycosmis parviflora - Cơm rƣợu hoa nhỏ Loài Cơm rượu hoa nhỏ có tên khoa học là Glycosmis parviflora (hay Limonia parviflora), thuộc chi Cơm rượu (Glycosmis), họ Cam quýt (Rutaceae) [6], [13].