MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp đến thời điểm hiện nay là 9 triệu ha trong đó có trên 4 triệu ha là đất trồng lúa, còn lại là đất trồng các loại hoa màu và cây trồng lâu năm. Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con người chỉ còn cách thâm canh để tăng sản lượng cây trồng. Khi thâm canh cây trồng một hậu quả tất yếu không thể tránh được là gây mất cân bằng sinh thái, kéo theo là sự phá hoại của dịch hại ngày càng gia tăng.
Để giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con người phải đầu tư thêm kinh phí để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong đó biện pháp hóa học được coi là quan trọng. Nhưng với khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm mưa nhiều. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu.
Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người. Phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là một trong những chất hóa học do con người tạo ra ngoài những mặt lợi nó cũng gây ra những ảnh hưởng và khó khăn do quá lạm dụng gây ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường đặc biệt là môi trường đất. Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong việc bón phân hóa học và sử dụng thuốc BVTV của người dân đã gây nên tác động lớn đến môi trường. Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện theo phương châm “phòng hơn chống” đã sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học theo kiểu phòng ngừa định kì vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng e 2 thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại phát triển thành dịch và lượng thuốc BVTV được sử dụng càng tăng.
Đây là vấn đề cần được quan tâm vì phần lớn nước ta là vùng sản xuất nông nghiệp, mỗi năm sử dụng lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là không nhỏ, những hệ lụy tới môi trường là không tránh khỏi. Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu và đất đai, Thái Nguyên có nhiều khả năng phát triển nông - lâm nghiệp, trong đó có trồng chè. Chè Thái Nguyên là sản phẩm nổi tiếng trong cả nước từ lâu. Tính đến cuối năm 2012, toàn tỉnh có hơn 130 cơ sở chế biến chè lớn nhỏ phân bố đều trên khắp địa bàn tỉnh.
Các vùng chè nổi tiếng như vùng chè Tân Cương (thành phố Thái Nguyên), vùng chè Trại Cài – Minh Lập (huyện Đồng Hỷ), vùng chè La Bằng (huyện Đại Từ), vùng chè Tức Tranh, Vô Tranh, Phú Đô (huyện Phú Lương),. Chè Thái Nguyên được tiêu thụ cả thị trường trong và ngoài nước, trong đó thị trường nội địa chiếm 70% với sản phẩm rất đa dạng gồm chè xanh, chè vàng, chè đỏ, chè đen và nhiều loại chè hòa tan, chè thảo dược khác. Toàn tỉnh hiện có trên 18.000 ha chè, đứng thứ 2 trong cả nước, trong đó có gần 17.000 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 109 tạ/ha, sản lượng đạt gần 185 nghìn tấn. Cây chè đã được tỉnh Thái Nguyên xác định là cây công nghiệp chủ lực, có lợi thế trong nền kinh tế thị trường, là cây xoá đói giảm nghèo và làm giàu của nông dân.
Tỉnh có chủ trương phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, khai thác tiềm năng và thế mạnh của cây chè, góp phần xoá đói, giảm nghèo và làm giàu cho phần lớn nông dân trồng chè trong tỉnh. Tuy nhiên, việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV trong sản xuất chè trong vài năm gần đây đã ảnh hưởng không tốt tới môi trường và sức khỏe người sản xuất chè. Xuất phát từ lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến đất trồng chè tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, thành phố Thái Nguyên.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đến đặc điểm, tính chất của đất và sức khỏe của người sản xuất chè. - Đưa ra giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của sử dụng thuốc BVTV và phân bón đến môi trường đất và sức khỏe người dân. - Nâng cao ý thức người dân cũng như hiệu quả công tác quản lý thuốc BVTV tại địa phương. Yêu cầu của đề tài - Số liệu, tài liệu thu thập phải đầy đủ chính xác, trung thực và khách quan.
- Phân tích mẫu phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật. - Kết quả điều tra đánh giá phải khoa học, chính xác. - Các giải pháp đưa ra phải khả thi phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phương. - Thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Tiến hành điều tra theo phiếu điều tra đã lập sẵn; bộ câu hỏi trong phiếu phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: + Khái quát được mức độ nguy hiểm của thuốc BVTV và phân bón hóa học đối với môi trường đất và sức khỏe người sản xuất tại một số vùng sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất được các giải pháp phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trường tỉnh Thái Nguyên. + Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn cho công tác bảo vệ môi trường. e 4 - Ý nghĩa thực tiễn: + Đánh giá được hiện trạng sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học tại một số vùng sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên.
+ Đưa ra được các tác động của thuốc BVTV và phân bón hóa học đối với môi trường đất và sức khỏe người sản xuất chè. e 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở lý luận *Khái niệm đất: "Đất hay thổ nhưỡng là lớp ngoài cùng của thạch quyển bị biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nước, không khí, sinh vật".
Các thành phần chính của đất là chất khoáng, nước, không khí, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh vật cho đến côn trùng, chân đốt v. Thành phần chính của đất được trình bày trong hình sau: Đất có cấu trúc hình thái rất đặc trưng, xem xét một phẫu diện đất có thể thấy sự phân tầng cấu trúc từ trên xuống dưới như sau: - Tầng thảm mục và rễ cỏ được phân huỷ ở mức độ khác nhau. - Tầng mùn thường có mầu thẫm hơn, tập trung các chất hữu cơ và dinh dưỡng của đất. - Tầng rửa trôi do một phần vật chất bị rửa trôi xuống tầng dưới.
- Tầng tích tụ chứa các chất hoà tan và hạt sét bị rửa trôi từ tầng trên. - Tầng đá mẹ bị biến đổi ít nhiều nhưng vẫn giữ được cấu tạo của đá. - Tầng đá gốc chưa bị phong hoá hoặc biến đổi * Khái niệm chất độc Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng chức năng của cơ thể làm cho sinh vật ngộ độc hoặc chết[3] *Khái niệm liều lượng Là lượng chất độc cần thiết tính bằng gam hay mg để gây tác động nhất định lên trên cơ thể sinh vật trong nghiên cứu độc lý. e 6 Liều lượng sử dụng: là liều lượng cần thiết dùng để phun trên diện tích nhất định, được chia ra: - Liều lượng hoạt chất: là lượng thuốc nguyên chất cần thiết dùng cho một đơn vị diện tích g, kg a.i với thuốc ở thể rắn, hoặc ml a.i với thuốc ở thể lỏng.i là đơn vị hoạt chất) - Liều lượng thuốc thương phẩm: là lượng thuốc thương phẩm cần thiết cho một đơn vị diện tích, được tính bằng g, kg, lít, ml thuốc thương phẩm trên một đơn vị diện tích nào đó.
*Khái niệm về thuốc BVTV Thuốc BVTV là yếu tố bảo vệ cây hay những sản phẩm bảo vệ mùa màng (chủ yếu là hóa chất) là những chất được tạo ra để chống lại và tiêu diệt loài gây hại hay các vật mang mầm bệnh virut hay vi khuẩn. Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loài sống cạnh tranh với cây trồng. *Phân loại thuốc BVTV Theo yêu cầu nghiên cứu và sử dụng có thể phân loại thuốc BVTV thành các loại sau: - Dựa vào đối tượng phòng chống: + Thuốc trừ sâu (Insecticide): gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kì loại côn trùng nào có mặt trong môi trường. Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn chặn tác hại của côn trùng đến cây trồng cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người.
+ Thuốc trừ bệnh: bao gồm các chất có nguồn gốc vô cơ, hưu cơ, sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật) có tác dụng diệt trừ hoặc ngăn ngừa các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản. + Thuốc trừ chuột (Rodenticide hay raticide): là những hợp chất vô cơ, hữu cơ hoặc nguồn gốc sinh học được dùng để diệt chuột và các loài gặm nhấm. e 7 + Thuốc trừ nhện ( Acricide hay Miticide): là những hợp chất chủ yếu trừ nhện hại cây trồng, đặc biệt là nhện đỏ. + Thuốc trừ cỏ (Herbicide): các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trưởng của cây trồng, các loài thực vật hoang dại mọc trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay đường sắt…và gồm các thuốc trừ rong rêu trên đồng ruộng kênh mương.
Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất vì vậy khi sử dụng thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng. + Thuốc trừ tuyến trùng (Nematode): các chất xông hơi và nội hấp được dùng để sử lý đất trừ tuyến trùng trong đất, trong cây.