Mở đầu là cuộc “Cách mạng xanh” đã giải quyết cơ bản về vấn đề lương thực. Sau đó là “Cách mạng trắng” với phong trào sản xuất sữa và hiện tại nền nông nghiệp Ấn Độ đang thực hiện cuộc “Cách mạng nâu” đó là phát triển chăn nuôi trâu, bò [6]. Thái Lan Ngày 20/10/1967 Chính phủ Thái Lan mới có quyết định thành lập tổ chức khuyến nông. Tuy ra đời hơi muộn so với một số nước khác nhưng Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm đến hoạt động này.
Hàng năm Chính phủ Thái Lan chi từ 120 - 150 triệu USD, thậm trí đến 200 triệu USD/năm để đầu tư cho hoạt động khuyến nông. Thái Lan cho tới nay có một hệ thống khuyến nông khá mạnh, có thể nói khuyến nông Thái Lan có mặt tới tận làng, xã. Ở Bộ nông nghiệp thuỷ sản có cục khuyến nông, ở cấp tỉnh có Trung tâm khuyến nông, ở cấp huyện có trạm Khuyến nông [6]. Trung Quốc Trung Quốc là một nước đông dân nhất trên thế giới với hơn 1,3 tỷ người nhưng nền nông nghiệp Trung Quốc không những đủ cung cấp nhu cầu trong nước mà còn là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới.
Theo Jinguguan: “Hiện nay và trong tương lai, khuyến nông vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp của Trung Quốc”. Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc áp dụng chính sách hỗ trợ nông nghiệp sản xuất sản phẩm chất lượng cao. Các chương trình khuyến nông chuyển giao giống cây trồng, lúa lai chất lượng cao, sản xuất đỗ tương xuất khẩu kết hợp cải tạo đất; dự án sản xuất giống vật nuôi, nâng cao sản lượng sữa được tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho nông dân. Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua chương trình khuyến nông quốc gia, giống mới cung cấp cho nông dân gần như cho không, hàng loạt các hoạt động tập huấn, mô hình trình diễn được tổ chức giúp người nông dân nắm bắt được những kỹ thuật mới.
Nhờ những chính sách đúng đắn của Nhà n 14 nước và hoạt động hiệu quả của khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được kết quả không ngờ sau vài năm thực hiện. Từng bước Khuyến nông trên khắp các vùng miền của Trung Quốc đã giúp nông dân hiểu được vai trò, trách nhiệm của họ dưới sự phát triển chung của nông nghiệp. Các Khuyến nông viên giúp nông dân nâng cao trình độ canh tác, giúp họ hiểu được phải làm gì, làm khi nào và làm như thế nào?Cùng họ nghiên cứu ngay trên mảnh ruộng của mình để chính họ trở thành những chủ nhân – chuyên gia kỹ thuật viên. Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ chức khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên (từ Trung ương tới tỉnh, huyện, xã, làng bản); khuyến nông viên phối hợp hoạt động cũng khoảng 400.000 tổ chức nông dân là kỹ thuật viên.
Hiện nay khuyến nông Trung Quốc đã là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều năm không ngừng củng cố (Phạm Kim Oanh, 2006) [6]. Lịch sử khuyến nông trong nước Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp. Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy dân cách làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để các Hoàng tử, Công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn từ các nông sản tại chỗ. Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa.
Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Hà Nam ngày nay [4]. Các vua Lý (1009 -1056) rất coi trọng nghề nông và đã ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp. Triều vua Lê Thái Tông (1492). Triều đình đặt chức Hà Đê Sứ và Khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều.
Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ luật Hồng Đức. n 15 Thời vua Quang Trung (1807 - 1792): Từ năm 1789 sau khi thắng giặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay “chiếu khuyến nông” nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, sau 3 năm những đất đai hoang hóa đã được phục hồi, sản xuất phát triển [4]. Đến thời kỳ nhà Nguyễn (1807 - 1884) đã định ra chức đinh điền sứ. Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này.
Ông đã có công khai khẩn đất hoang để lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình). Thời kỳ pháp thuộc (1884 - 1945) phát triển nông nghiệp và khuyến nông chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân pháp. Người Pháp tổ chức các Sở canh nông ở Bắc Kỳ, các Ty khuyến nông ở các tỉnh. Từ sau cách mạng tháng 8/1945 - 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi quốc dân “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! Đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này”.
Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất [4]. Từ năm 1958 - 1975 nông nghiệp Miền Bắc Việt Nam phát triển trong sự tác động mạnh mẽ của mô hình HTX nông nghiệp. Từ đổi công (1956), đến HTX bậc thấp năm 1960, đến HTX cấp cao (1968), đến HTX toàn xã năm 1974. Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ sở.
Giai đoạn 1976 - 1988 nông nghiệp Việt Nam thống nhất thành một mối hai miền cùng tăng gia phát triển sản xuất. Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóa tập chung. Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống. Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm 80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị 100CT/TW của ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán n 16 100).
Khoán 100 mặc dù chưa phải là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp, mà mới chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ. Đây cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập chung, quan liêu, sản xuất tập thể. Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để mở ra thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế.
Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10).TS Chanock Jacobsen đã khẳng định: “Trong một thế giới đang chuyển đổi mà sự khởi đầu của cá thể và tư nhân chiếm vị trí cao trong sự phát triển nông nghiệp, khuyến nông đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết”. Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyến nông. Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương. Năm 1993 Cục khuyến nông Khuyến lâm được thành lập: vừa quản lý nhà nước vừa làm công tác khuyến nông.
Năm 2001 Trung tâm Khuyến nông Trung ương ra đời (trực thuộc cục khuyến nông). Tới năm 2003 Trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập. Ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành nghị định 56/2005/CP thay thế cho Nghị định 13CP. Trong nghị định này quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông ( đặc biệt đội ngũ CBKN cơ sở).
Bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông; mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông [1]. Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam hiện nay Theo Nghị định số 02/2010/NĐ- CP của Chính phủ và Quyết định số 1816 /QĐ- TCCB ngày 28/6/2010 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT a. Ở Trung ương Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và PTNT về khuyến nông. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ quản lý nhà nước n 17 của Bộ, song trên thực tế vẫn phải thực hiện một số nhiệm vụ có tính chất quản lý nhưng không chính danh như: xây dựng kế hoạch khuyến nông trung hạn và hàng năm; lập kế hoạch kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, dự án khuyến nông trung ương; hướng dẫn phương pháp, nghiệp vụ khuyến nông cho hệ thống khuyến nông địa phương; tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động khuyến nông trên phạm vi toàn quốc; đề xuất các cơ chế chính sách về khuyến nông [2]… b.
Ở Địa phương Ở cấp tỉnh: - Tổ chức KN ở cấp tỉnh là trung tâm khuyến nông hoặc trung tâm Khuyến nông, Khuyến ngư trực thuộc Sở NN & PTNT. - Trung tâm khuyến nông tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp của Sở NN & PTNT; đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của TTKNQG. - Về biên chế cần đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng cán bộ để đáp ứng yêu cầu thực hiện các hoạt động khuyến nông tại địa phương [2]. Cấp huyện có Trạm khuyến nông huyện.
Xây dựng Trạm khuyến nông hoặc Trạm khuyến nông, khuyến ngư; căn cứ vào điều kiện của từng địa phương, chủ tịch UBND câp tỉnh quy định Trạm khuyến nông thuộc Trung tâm khuyến nông tỉnh hoặc UBND cấp huyện quản lý; số lượng, cơ cấu của cán bộ Trạm khuyến nông được bố trí phù hợp với nhu cầu khuyến nông trên địa bàn huyện [2]. Cấp xã - Mỗi xã, phường có ít nhất 01 nhân viên khuyến nông. Đối với các xã vùng sâu có thể bố trí 02 nhân viên khuyến nông trở lên.