Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn từ năm 1943 đến năm 1998, Việt Nam đã mất đi khoảng 14% độ che phủ rừng tự nhiên, để lại hơn 18,59% diện tích đất trống đồi núi trọc trên toàn quốc và gây suy thoái nghiêm trọng đến môi trường sinh thái. Nhằm đảo ngược tình trạng này, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng được Quốc hội khóa X thông qua tại Nghị quyết số 08/1997/QH10 và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thực hiện theo Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 (gọi tắt là Dự án 661). Tuy nhiên, các báo cáo đánh giá dự án sử dụng ngân sách Nhà nước trước đây thường mang tính kiểm tra hành chính một chiều từ trên xuống, chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu kỹ thuật đơn lẻ mà chưa lượng hóa toàn diện các tác động tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán đánh giá toàn diện kết quả thực hiện Dự án 661 trong giai đoạn 12 năm (từ năm 1999 đến năm 2010) tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Mục tiêu cụ thể gồm: tổng kết tiến độ và chất lượng các hạng mục lâm sinh; lượng hóa những chuyển biến về sinh kế của cộng đồng địa phương; phân tích các chỉ số cải thiện môi trường đất, nước và phòng chống xói mòn; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp duy trì kết quả trong giai đoạn hậu dự án. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát trên tổng diện tích 9.971,8 ha do Ban Quản lý phụ trách, trải dài trên địa bàn 19 xã, phường, thị trấn thuộc 4 huyện và thị xã gồm Nghi Xuân, Can Lộc, Lộc Hà và thị xã Hồng Lĩnh. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc chứng minh độ che phủ rừng tại khu vực đã tăng từ 36% năm 1998 (với 3.589,8 ha rừng) lên 67% vào năm 2010 (tương ứng hơn 6.678 ha rừng hiện có), tạo lập cơ sở khoa học tin cậy cho công tác quản trị lâm nghiệp bền vững cấp cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý chu trình dự án của các học giả kinh điển như Cleland và King (1975), Gittinger (1982), cùng các hướng dẫn phân tích dự án lâm nghiệp của Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) do Hans M-Gregersen và Arnoldo H. Contreras (1979) biên soạn. Đặc biệt, nghiên cứu tích hợp khung phân tích phát triển bền vững bắt nguồn từ Báo cáo Brundtland (1987) và Tuyên bố Rio de Janeiro (1992), kết hợp mô hình đánh giá tác động tổng hợp ba trụ cột kinh tế - xã hội - sinh thái của Walfredo Raqual Rola (1994). Hệ thống lý thuyết này vận dụng 4 khái niệm cốt lõi gồm: quản lý lâm nghiệp xã hội có sự tham gia của người dân; sinh kế hộ gia đình miền núi; khả năng sinh thủy của lưu vực rừng phòng hộ; và động thái phục hồi độ phì đất feralit trên nền đá mẹ chua.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ 14 hồ sơ thiết kế, báo cáo giám sát tài chính và hiện trạng tài nguyên rừng giai đoạn 1999 - 2010 với hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại hiện trường. Cỡ mẫu xã hội học được thiết lập tại 2 xã điển hình với 30 hộ gia đình tham gia dự án, phân tầng theo phương pháp ngẫu nhiên có mục đích thành 3 nhóm: 10 hộ khá (thu nhập trên 20 triệu đồng/năm), 10 hộ trung bình (thu nhập từ 10 đến dưới 20 triệu đồng/năm) và 10 hộ nghèo (thu nhập dưới 10 triệu đồng/năm). Công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm 8 đến 10 người/thôn được lựa chọn nhằm bảo đảm tính khách quan, phản ánh chân thực tiếng nói của cộng đồng hưởng lợi.

Về phương pháp thực nghiệm lâm sinh, tác giả thiết lập các ô tiêu chuẩn diện tích 500 m2 (kích thước 20 m x 25 m) tại các trạng thái rừng trồng Thông và Keo lai điển hình để đo đường kính thân D1.3 và chiều cao vút ngọn Hvn. Trong mỗi ô tiêu chuẩn bố trí 4 ô dạng bản diện tích 25 m2 (5 m x 5 m) ở 4 góc để thống kê cây tái sinh và thảm tươi cây bụi, đồng thời đào phẫu diện đất để phân tích độ chua pH, hàm lượng mùn và các chất khoáng. Lượng nước thấm vào đất được tính toán theo công thức cân bằng thủy văn Vưxopsky (W = P0 - (Eb + T + S)), trong khi lượng đất xói mòn được xác định qua chỉ số xói mòn mưa K và độ tàn che thực nghiệm. Việc phối hợp giữa điều tra xã hội học và giải tích lâm sinh mang lại độ tin cậy khoa học cao cho toàn bộ kết quả phân tích.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô và tiến độ thực hiện, Ban Quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu lâm sinh với 3.088,3 ha rừng trồng mới (đạt 99,6% kế hoạch), khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 55,0 ha (đạt 100% kế hoạch) và tổ chức bảo vệ rừng đạt 43.863,1 lượt ha (đạt 99% kế hoạch giao). Toàn bộ 100% diện tích thiết kế hàng năm đều được phân chia lô khoảnh rõ ràng bằng máy định vị GPS và địa bàn chuyên dụng.

Thứ hai, mạng lưới sản xuất giống cây con tại chỗ được thiết lập vững chắc thông qua 13 vườn ươm vệ tinh phân bố tại các tiểu khu 121, 124, 98, 125, cung ứng bình quân từ 28 đến 30 vạn cây giống mỗi năm. Tỷ lệ cây sống sau nghiệm thu giai đoạn 1,5 đến 2 tháng đạt trên 85%, đảm bảo chất lượng sinh trưởng đồng đều cho các loài cây chủ lực như Thông nhựa và Keo lai.

Thứ ba, về mặt kinh tế - xã hội, tổng nguồn vốn ngân sách đầu tư hơn 21,5 tỷ đồng đã tạo việc làm thường xuyên cho 17.667 lao động nông lâm nghiệp địa phương. Thu nhập bình quân của nhóm hộ nghèo tăng lên rõ rệt, trong đó tỷ trọng thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp tăng từ 12% ở thời điểm trước dự án lên 28,5% sau khi tham gia các hoạt động trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.

Thứ tư, về cải thiện môi trường sinh thái, dự án đã nâng độ che phủ rừng từ 36% lên 67%, nâng cao độ phì đất feralit rõ rệt với hàm lượng mùn tổng số tăng từ 1,82% lên 3,45% tại các khu vực có tán rừng. Lượng đất xói mòn trên các sườn dốc từ 15 đến 19 độ giảm mạnh từ 45 tấn/ha/năm xuống dưới 12 tấn/ha/năm ở mô hình Thông kết hợp Keo, đồng thời giữ ổn định nguồn sinh thủy cho 24 hồ đập với tổng dung tích 34,4 triệu m3 phục vụ tưới tiêu cho gần 3.100 ha đất nông nghiệp.

Chỉ tiêu đánh giá Trước Dự án (1998) Sau Dự án (2010) Mức độ thay đổi
Độ che phủ của rừng 36,0% 67,0% Tăng 31,0%
Diện tích đất trống đồi núi trọc 6.382,0 ha 3.293,7 ha Giảm 3.088,3 ha
Tỷ trọng thu nhập lâm nghiệp hộ dân 12,0% 28,5% Tăng 16,5%
Cường độ xói mòn đất sườn dốc 45,0 tấn/ha/năm 12,0 tấn/ha/năm Giảm 73,3%
Tỷ lệ hộ dùng điện lưới quốc gia 65,0% 100,0% Tăng 35,0%

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm được minh họa trực quan thông qua bảng đối chiếu trước - sau dự án kết hợp biểu đồ vũ nhiệt Gaussen - Walter với lượng mưa dao động từ 2.300 mm đến 2.700 mm/năm. Nguyên nhân chính giúp dự án đạt tỷ lệ hoàn thành vượt mức 99% bắt nguồn từ mô hình quản trị tinh gọn, phân cấp trực tiếp quyền lợi giao khoán đến từng hộ gia đình và gắn chặt quyền lợi của người dân với diện tích rừng nhận chăm sóc. Việc người dân tự làm chủ các vườn ươm tại chỗ giúp giảm thiểu chi phí vận chuyển và tỷ lệ cây con hao hụt khi trồng trong mùa khô nóng đặc trưng của miền Trung.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của Hoàng Xuân Tý (1994) và Phạm Xuân Thịnh (2002), kết quả tại Hồng Lĩnh cho thấy mô hình trồng rừng hỗn giao Thông và Keo có khả năng cải tạo đất và hạn chế rửa trôi vượt trội hơn hẳn so với rừng trồng thuần loài. Tuy nhiên, phân tích chi phí cho thấy suất đầu tư bình quân từ nguồn ngân sách Trung ương vẫn còn thấp so với công sức thực tế của người lao động, đồng thời hệ thống đường lâm nghiệp phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng chưa được đầu tư thỏa đáng, tạo ra rủi ro cháy rừng cao trong các đợt gió Tây Nam khô nóng tháng 6 và tháng 7 hàng năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy bền vững các thành quả lâm sinh đã đạt được, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất thực hiện với lộ trình cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và nâng định mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng từ 100.000 đồng/ha/năm lên mức 300.000 đến 400.000 đồng/ha/năm trong giai đoạn 2011 - 2015 do Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng chủ trì, nhằm đảm bảo nguồn thu nhập tối thiểu cho hơn 13.459 hộ dân sống gần rừng.

Thứ hai, chuyển hóa cấu trúc rừng bằng kỹ thuật lâm sinh thâm canh, tiến hành tỉa thưa và trồng bổ sung các loài cây bản địa có giá trị cao trên diện tích 1.500 ha rừng trồng thuần loài giai đoạn 2011 - 2014, nâng độ tàn che tầng cây cao lên trên 80% do Ban Quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh trực tiếp tổ chức thực hiện.

Thứ ba, nâng cấp 13 vườn ươm vệ tinh đạt công suất ổn định 50 vạn cây/năm và xây mới 25 km đường băng cản lửa kết hợp đường tuần tra rừng phòng hộ trước năm 2013 do Ban Quản lý dự án cơ sở phối hợp Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh triển khai nhằm hạn chế tối đa nguy cơ cháy rừng mùa khô.

Thứ tư, đa dạng hóa mô hình sinh kế nông lâm kết hợp dưới tán rừng, hỗ trợ 100% hộ nghèo và cận nghèo tiếp cận gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để phát triển chăn nuôi đại gia súc và trồng cây dược liệu, phấn đấu tăng thu nhập hộ gia đình thêm 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015 dưới sự hướng dẫn của chính quyền 19 xã, phường địa phương.

[2011 - 2013]                    [2011 - 2014]                    [2011 - 2015]
• Nâng cấp 13 vườn ươm           • Chuyển hóa 1.500 ha            • Chi trả DVMTR đạt
  đạt 50 vạn cây/năm               rừng thuần loài                  300k-400k/ha/năm
• Xây 25 km đường băng           • Nâng độ tàn che                • Tăng thu nhập hộ
  cản lửa phòng cháy               lên trên 80%                     lên 15% - 20%/năm

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm trong ngành lâm nghiệp và phát triển nông thôn:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý lâm nghiệp tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Lâm nghiệp các tỉnh Bắc Trung Bộ có thể sử dụng hệ thống số liệu thực nghiệm và bài học quản lý của dự án để xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển lâm nghiệp bền vững.

Thứ hai, các Ban Quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng trên toàn quốc có thể học hỏi mô hình thiết lập 13 vườn ươm phân tán và phương thức giao khoán bảo vệ 43.863,1 lượt ha rừng đạt tỷ lệ thành rừng trên 98% mà không làm phát sinh chi phí trung gian.

Thứ ba, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế nông nghiệp có thể kế thừa bộ công cụ điều tra ô tiêu chuẩn 500 m2, phương pháp giải tích dòng thấm Vưxopsky và phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân (PRA) làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu cùng lĩnh vực.

Thứ tư, chính quyền địa phương của 19 xã, phường vùng đệm và các tổ chức phi chính phủ phát triển sinh kế có thể áp dụng mô hình phân nhóm 30 hộ gia đình để xây dựng các dự án giảm nghèo dựa vào rừng, gắn bảo tồn thiên nhiên với phát triển kinh tế cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Dự án 661 tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh đã đạt được những thành tựu nổi bật nào về diện tích rừng?

Trong 12 năm thực hiện từ năm 1999 đến năm 2010, dự án đã trồng mới thành công 3.088,3 ha rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh 55,0 ha và bảo vệ 43.863,1 lượt ha rừng. Kết quả này đã nâng tỷ lệ che phủ rừng trên toàn dãy núi Hồng Lĩnh từ mức 36% năm 1998 lên 67% vào năm 2010.

Phương pháp chọn mẫu nào được sử dụng để đánh giá tác động kinh tế đến các hộ gia đình?

Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có mục đích tại 2 xã điển hình, chọn ra 30 hộ gia đình chia đều thành 3 nhóm: 10 hộ khá (thu nhập trên 20 triệu đồng/năm), 10 hộ trung bình (thu nhập 10 đến dưới 20 triệu đồng/năm) và 10 hộ nghèo (thu nhập dưới 10 triệu đồng/năm) để phỏng vấn sâu theo phiếu điều tra bán cấu trúc.

Dự án 661 đã cải thiện khả năng giữ nước và phòng chống xói mòn đất tại địa phương ra sao?

Nhờ độ tàn che của rừng tăng lên, lượng nước thấm vào đất được gia tăng đáng kể theo công thức Vưxopsky, duy trì dòng chảy sinh thủy cho 24 hồ đập với 34,4 triệu m3 nước. Cường độ xói mòn đất tại các sườn dốc 15 đến 19 độ giảm mạnh từ 45 tấn/ha/năm xuống dưới 12 tấn/ha/năm ở mô hình Thông xen Keo.

Cơ cấu tổ chức quản lý Dự án 661 tại cấp cơ sở có ưu điểm và hạn chế gì?

Bộ máy quản lý trực tiếp từ Ban Quản lý cơ sở đến đội sản xuất xã và tổ trồng rừng thôn rất tinh gọn, giảm thiểu thủ tục hành chính và đẩy nhanh tiến độ thanh quyết toán. Tuy nhiên, hạn chế lớn là đội ngũ cán bộ cơ sở chủ yếu kiêm nhiệm, thiếu kinh nghiệm chuyên sâu về khuyến lâm và quản lý kinh tế dự án.

Những giải pháp tài chính trọng tâm nào được đề xuất cho giai đoạn hậu dự án?

Nghiên cứu đề xuất đưa cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng vào thực tiễn, nâng mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng từ 100.000 đồng/ha/năm lên 300.000 đến 400.000 đồng/ha/năm, đồng thời hỗ trợ 100% hộ dân nghèo vay vốn ưu đãi để phát triển các mô hình nông lâm kết hợp dưới tán rừng.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  • Tổng kết toàn diện 12 năm thực hiện Dự án 661 tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh với 3.088,3 ha rừng trồng mới và độ che phủ rừng tăng trưởng vượt bậc từ 36% lên 67%.
  • Lượng hóa thành công các tác động kinh tế xã hội thông qua điều tra 30 hộ gia đình, chứng minh tỷ trọng thu nhập lâm nghiệp tăng lên 28,5% và tạo việc làm cho 17.667 lao động địa phương.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cải thiện sinh thái với độ xói mòn đất giảm hơn 73% và bảo đảm nguồn sinh thủy cho 24 hồ đập trữ lượng 34,4 triệu m3 nước.
  • Đúc rút bài học kinh nghiệm sâu sắc về xây dựng mạng lưới 13 vườn ươm phân tán và phân cấp quản lý gọn nhẹ tại cấp cơ sở.
  • Hoàn thiện hệ thống giải pháp toàn diện bao gồm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng và chuyển hóa 1.500 ha rừng thuần loài cho giai đoạn 2011 - 2015.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2011 đến năm 2015, các đơn vị quản lý cần khẩn trương số hóa bản đồ quy hoạch 3 loại rừng và triển khai các mô hình kinh tế dưới tán rừng. Quý độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu và phương pháp luận của nghiên cứu này để ứng dụng vào công tác quy hoạch, quản trị và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại các địa phương trên toàn quốc.