Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Thuật ngữ “dự án” được con người sử dụng từ lâu để đặt tên cho một loạt các hoạt động của tập thể hay cá nhân nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định trong khoảng thời gian hạn định. Thường thì dự án gồm nhiều các hoạt động trong thời gian dài và đề ra các mục tiêu có tính chất rộng rãi, ý nghĩa lan rộng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án, hướng mục tiêu thường bị chi phối, mức độ đạt mục tiêu khác với mức đặt ra ban đầu. Điều đó thể hiện sự phản hồi của các hoạt động của dự án và mối liên hệ giữa các mặt trong phạm vi không gian và thời gian thực hiện dự án.
Trên thế giới 1. Khái niệm về dự án Trong lý thuyết cũng như thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dự án. Mỗi quan điểm về dự án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc mục đích nghiên cứu, khái niệm về dự án đã và đang được bổ sung hoàn thiện. Theo Cleland và King (1975): dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và tài lực trong một thời gian nhất định để đạt được một mục tiêu định trước.
Gittinger (1982) đưa ra quan điểm: dự án là tập hợp các hoạt động mà ở đó tiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại. Trong quá trình này các công việc kế hoạch tài chính, vận hành hoạt động là một thể thống nhất, được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định. Theo WB: dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Lyn Squire: dự án là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có, nhằm đem lại lợi ích cho xã hội càng nhiều càng tốt.
Đánh giá tác động dự án Đánh giá là một khâu then chốt trong một chu trình dự án, nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của dự án trên cơ sở so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước. Hay nói cách khác, đánh giá là quá trình xem xét một cách hệ thống và khách quan nhằm xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã vạch ra. Đánh giá là một công việc thường xuyên trong các hoạt động của dự án. Trong các dự án mà ở đó vai trò tham gia của các bên liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thì công tác đánh giá đòi hỏi phải có sự tham gia của các bên liên quan.
Đánh giá có sự tham gia là một hệ thống phân tích được thực hiện bởi các nhà quản lý dự án và các thành viên được hưởng lợi từ dự án, cho phép họ điều chỉnh, xác định lại chính sách hoặc mục tiêu, chiến lược, sắp xếp lại các tổ chức các đơn vị triển khai lại các nguồn lực nếu cần thiết. Nó là cơ hội cho cả người bên trong và người bên ngoài cộng đồng dừng lại phản ánh về quá khứ và đưa ra quyết định cho tương lai. Các lý thuyết về hướng dẫn và đánh giá được đề cập chi tiết trong các công trình nghiên cứu của WHO, Gittinger, Dixon & Hufschmidt L.Therse Barker, Jim Woodhill, FAO, WB. Các phương pháp đánh giá dự án cũng được phát triển mạnh mẽ từ những năm 50, 60 của thế kỷ trước, khi các dự án phát triển cộng đồng ra đời.
Các phương pháp bao gồm: Phương pháp điều tra khảo sát (servey), phương pháp người dân tham gia đánh giá (PRA), phương pháp phỏng vấn (interview), phương pháp thảo luận nhóm (group). Các khía cạnh đánh giá tác động của dự án Trên thế giới, đánh giá tác động của dự án đã có từ lâu đời. Đánh giá tác động của dự án là những việc làm để xem xét một cách toàn diện về các tác động của nó làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và tự nhiên mà cụ thể là kinh tế, xã hội và môi trường đã định trước ở mục tiêu của n 16 dự án. Về phương pháp đánh giá tác động dự án tùy thuộc loại dự án mà có phương pháp phù hợp.
Dự án đầu tư cho sản xuất kinh doanh thì tập chung đánh giá tác động về lợi ích kinh tế; các dự án đầu tư lĩnh vực bảo tồn thì đánh giá tác động dự án về mặt môi trường và văn hóa xã hội. Thời điểm và mục tiêu khác nhau thì phương pháp đánh giá cũng khác nhau. Những dự án đánh giá nhiều lĩnh vực thì việc đánh giá phải tách riêng theo từng lĩnh vực. Đánh giá tác động khi hoàn thành dự án là việc làm bao quát, phân tích và so sánh hiệu quả của dự án đạt được với mục tiêu đề ra hay sự tác động của dự án có làm chuyển hướng phát triển về các mặt so với mục tiêu đầu tư hay không.
Theo tổ chức Nông lương thế giới FAO [23] thì đánh giá tác động của dự án về mặt kinh tế thường tập trung phân tích lợi ích và chi phí xã hội nên các lợi ích và các chi phí xã hội nên các lợi ích và các chi phí xã hội phải tính suốt cả thời gian mà sản phẩm dự án chưa có đoạn kết, như dự án trồng rừng thì phải sau một thời gian nhất định mới có sản phẩm của rừng. Nhưng nhìn chung, để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của dự án thì tổng mức đầu tư từ khi bắt đầu triển khai dự án đến khi có sản phẩm đầu ra ở điểm kết thúc dự án và mức chiết khấu nguồn đầu tư. Đánh giá tác động liên quan về xã hội, H.M Gregersen và Brooks nêu: bất cứ khi nào có một sự thay đổi phát sinh qua một dự án như tạo việc làm mới, tăng diện tích canh tác, năng xuất, chất lượng sản phẩm tăng lên thì quá trình đánh giá không những phải xác định phần lợi ích gia tăng mà còn xác định các yếu tố lợi ích liên quan xã hội, nếu chỉ căn cứ vào tiền mặt luân chuyển trong quá trình thực hiện dự án thì đây là một phân tích đánh giá tài chính đơn thuần chứ không phải một đánh giá kinh tế mang tính xã hội. Tất cả các tác động về lợi ích của dự án phải tính toán cả các mặt số lượng, chất lượng và lợi ích kinh tế liên quan đến xã hội.
Schuster đã nêu các phương pháp để xác định độ lớn của các tác động theo vùng đối với các dự án lâm nghiệp, đây là sự n 17 thể hiện kiểu ảnh hưởng loại ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của dự án đến con người là nhân tố chính. Về môi trường, UNEP đã xây dựng bản hướng dẫn đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển. Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm dự báo các tác động môi trường của một dự án, thể hiện sự ảnh hưởng của kết quả về các hoạt động của dự án đối với môi trường. Khái niệm về dự án Ở Việt Nam, khái niệm dự án được đề cập đến nhiều vào khoảng những năm cuối thế kỷ 20.
Tùy các góc độ, khía cạnh khi xem xét về dự án, các tác giả đã đưa ra nhiều khái niệm về dự án. Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngừa thảm họa đã đưa ra hai khái niệm về dự án: - Dự án là một quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó. - Dự án là một quá trình phát triển có kế hoạch [15], được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong một thời gian nhất định. Theo bài giảng về Quản lý lâm nghiệp xã hội [20] của Trung tâm Lâm nghiệp xã hội, để nhìn nhận dự án một cách đầy đủ nhất phải đứng trên nhiều khía cạnh khác nhau: về hình thức, về quản lý, về kế hoạch, về nội dung.
+ Theo đại bách khoa toàn thư: - Dự án (Project) là điều người ta có ý định làm, hay đặt kế hoạch cho một ý đồ, một quá trình hành động. - Dự án là một nỗ lực tổng hợp bao gồm các nhiệm vụ có liên quan với nhau được thực hiện trong một giới hạn về thời gian, ngân sách và với mục tiêu đã được định nghĩa rõ ràng. n 18 - Dự án là một tập hợp có tổ chức các hoạt động và các quy trình đã được tạo ra để thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong các giới hạn về nguồn lực, ngân sách và các kỳ hạn đã được xác định trước. Tóm lại, dự án được hiểu chung nhất là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch định trước với một nguồn tài lực dự kiến nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu định trước trong phạm vi không gian và thời gian nhất định.
Hoạt động của dự án sẽ làm xuất hiện những vấn đề mới về kinh tế - xã hội và môi trường trong phạm vi không gian thực hiện dự án. Các khía cạnh đánh giá tác động của dự án Năm 1994, Lê Thạc Cán [3] hoàn thành công trình nghiên cứu “Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiện thực tiễn” tạo tiền đề cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên cứu tiếp theo. Trần Hữu Dào (1995) đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh doanh cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng rừng quế thâm canh thuần loài quy mô hộ gia đình tại Văn Yên – Yên Bái. Trong đề tài tác giả đã trình bày, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ trong phân tích kinh tế lâm nghiệp.
Tuy nhiên đề tài mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế, chưa chú trọng và đề cập sâu đến hiệu quả xã hội và môi trường. Năm 1996, Đoàn Hoài Nam [4] với luận văn thạc sỹ: “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương - Hàm Yên - Tuyên Quang” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và sinh thái của một số mô hình rừng trồng, tuy nhiên chưa thấy tác giả đề cập đến vấn đề xã hội.