Đánh giá tác động của xây dựng nông thôn mới đến kinh tế xã Bản Díu, Xín Mần

Tài liệu nghiên cứu Đánh giá tác động của xây dựng nông thôn mới đến phát triển kinh tế của xã bản díu huyện xín mần, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Kinh tế

Tác giả

Trần Thị Hằng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh xây dựng NTM đến phát triển kinh tế Bản Díu

Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, mang tính chiến lược trong việc phát triển toàn diện khu vực nông thôn Việt Nam. Tại xã Bản Díu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, một địa phương vùng cao với nhiều khó khăn đặc thù, việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những chuyển biến sâu sắc, đặc biệt là đối với phát triển kinh tế xã hội huyện Xín Mần. Trước khi có chương trình, kinh tế xã Bản Díu chủ yếu dựa vào nông nghiệp quy mô nhỏ, tự cung tự cấp, cơ sở hạ tầng yếu kém và đời sống người dân tộc thiểu số còn nhiều thiếu thốn. Việc áp dụng 19 tiêu chí nông thôn mới quốc gia vào thực tiễn địa phương là một quá trình đầy nỗ lực. Chương trình không chỉ tập trung vào việc phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội như đường giao thông, thủy lợi, điện, trường học, mà còn hướng đến mục tiêu cốt lõi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Điều này nhằm nâng cao thu nhập bình quân đầu người xã Bản Díu và thực hiện hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo bền vững tại Hà Giang. Đánh giá tác động của chương trình này đòi hỏi một cái nhìn đa chiều, từ những thay đổi về diện mạo làng xã đến sự cải thiện trong chất lượng cuộc sống và cơ cấu kinh tế. Quá trình này thể hiện rõ vai trò của cộng đồng trong xây dựng NTM, khi người dân vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình đổi mới quê hương, góp phần thay đổi thực trạng kinh tế Hà Giang ở cấp cơ sở.

1.1. Tổng quan chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qua Quyết định số 800/QĐ-TTG, triển khai giai đoạn 2010-2020. Đây là một chương trình tổng thể, bao trùm các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng tại khu vực nông thôn. Mục tiêu chính là xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng hiện đại, cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với công nghiệp - dịch vụ. Chương trình hướng đến việc nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Hiệu quả chương trình NTM được đo lường thông qua bộ 19 tiêu chí nông thôn mới, bao gồm các nhóm về quy hoạch, hạ tầng, kinh tế, văn hóa - xã hội và hệ thống chính trị. Nguồn vốn thực hiện chương trình được huy động đa dạng từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, tín dụng và đặc biệt là sự đóng góp của cộng đồng.

1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội xã Bản Díu trước khi triển khai

Trước năm 2010, xã Bản Díu là một trong những xã đặc biệt khó khăn của huyện Xín Mần. Thực trạng kinh tế Hà Giang tại đây thể hiện rõ qua cơ cấu kinh tế lạc hậu, với hơn 87% lao động làm nông nghiệp (theo số liệu năm 2015). Sản xuất chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, công cụ thô sơ, năng suất thấp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện lưới còn nhiều hạn chế, gây cản trở cho giao thương và phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo luôn ở mức cao, thu nhập bình quân đầu người xã Bản Díu rất thấp. Đời sống văn hóa, xã hội còn tồn tại nhiều hủ tục, trình độ dân trí chưa cao, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục của người dân còn hạn chế. Đây là những thách thức lớn đặt ra cho chính quyền và nhân dân địa phương khi bắt đầu hành trình xây dựng nông thôn mới.

II. Thách thức trong phát triển kinh tế xã Bản Díu trước NTM

Trước khi chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai, xã Bản Díu phải đối mặt với vô số thách thức cản trở sự phát triển kinh tế xã hội. Nền kinh tế chủ yếu là kinh tế nông nghiệp nông thôn manh mún, lạc hậu, với trên 87% lao động phụ thuộc vào trồng trọt và chăn nuôi quy mô nhỏ. Việc thiếu các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả và chưa áp dụng khoa học kỹ thuật khiến năng suất cây trồng, vật nuôi thấp, thu nhập bấp bênh. Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội là điểm nghẽn lớn nhất. Giao thông chủ yếu là đường đất, đi lại khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa lũ, làm hạn chế giao thương hàng hóa. Hệ thống thủy lợi chưa được kiên cố hóa, không đảm bảo nước tưới tiêu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia còn thấp. Các cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế, văn hóa vừa thiếu, vừa xuống cấp. Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực là một rào cản. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, người dân, đặc biệt là đời sống người dân tộc thiểu số, còn mang nặng tư tưởng, tập quán sản xuất cũ, ngại thay đổi. Những yếu tố này đã tạo thành một vòng luẩn quẩn của đói nghèo, khiến cho việc thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững tại Hà Giang trở nên vô cùng khó khăn và cấp bách.

2.1. Thực trạng hạ tầng kinh tế xã hội còn nhiều yếu kém

Trước khi thực hiện NTM, hệ thống hạ tầng tại Bản Díu vô cùng thiếu thốn. Các tuyến đường liên xã, liên thôn chủ yếu là đường đất, gây khó khăn cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa, nông sản. Hệ thống thủy lợi, kênh mương chưa được đầu tư, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu tưới tiêu, dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp bấp bênh. Nhiều thôn bản chưa có điện lưới quốc gia, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sản xuất. Các công trình công cộng như trường học, trạm y tế, nhà văn hóa đều trong tình trạng xuống cấp, thiếu thốn trang thiết bị. Đặc biệt, tiêu chí về chợ nông thôn và nhà ở dân cư chưa đạt chuẩn, phần lớn nhà ở là nhà tạm, nhà bán kiên cố, chưa đảm bảo an toàn. (Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp Trần Thị Hằng, 2018).

2.2. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp lạc hậu và thu nhập thấp

Nền kinh tế của Bản Díu phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nông nghiệp. Tuy nhiên, phương thức canh tác còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, chưa có sự ứng dụng khoa học kỹ thuật. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn diễn ra rất chậm. Các giống cây trồng, vật nuôi địa phương cho năng suất thấp. Lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng quá cao (87,5% năm 2015) trong khi các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ gần như không phát triển. Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là thu nhập bình quân đầu người xã Bản Díu ở mức rất thấp, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 lên tới 30,5% (theo chuẩn nghèo giai đoạn cũ).

III. Phương pháp phát triển hạ tầng kinh tế xã hội ở Bản Díu

Để thay đổi bộ mặt nông thôn và tạo đòn bẩy cho phát triển kinh tế xã hội, xã Bản Díu đã tập trung nguồn lực thực hiện nhóm tiêu chí nông thôn mới về hạ tầng. Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", việc phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội đã có những bước tiến vượt bậc. Về giao thông, nhiều tuyến đường liên xã, liên thôn được bê tông hóa, cứng hóa, giúp việc đi lại và giao thương thuận lợi hơn. Theo báo cáo, đến năm 2016, 74,58% đường xã đã được nhựa hóa. Hệ thống thủy lợi được ưu tiên đầu tư, kiên cố hóa kênh mương, đảm bảo cung cấp nước tưới tiêu cho phần lớn diện tích canh tác, góp phần tăng vụ và nâng cao năng suất. Mạng lưới điện quốc gia được mở rộng, đưa tỷ lệ hộ sử dụng điện tăng từ dưới 80% lên 87,12% vào năm 2016, cải thiện đáng kể đời sống người dân tộc thiểu số. Các công trình phúc lợi xã hội cũng được chú trọng. Trường học ở các cấp được xây mới và nâng cấp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu dạy và học. Trạm y tế xã được đầu tư trang thiết bị, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Nhiều nhà văn hóa thôn được xây dựng, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng. Chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát đã giúp hàng trăm hộ dân có được ngôi nhà kiên cố, ổn định cuộc sống. Việc huy động hiệu quả các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới là yếu tố then chốt cho thành công này.

3.1. Cải thiện hệ thống giao thông và thủy lợi nông thôn

Giao thông và thủy lợi được xác định là hai khâu đột phá. Xã đã huy động người dân hiến đất, góp công để mở rộng và bê tông hóa các tuyến đường. Tuyến đường từ trung tâm xã đến thôn Díu Thượng dài 8,67km là một minh chứng tiêu biểu cho sự thành công từ nguồn vốn xây dựng nông thôn mới. Về thủy lợi, đến cuối năm 2016, xã đã kiên cố hóa được 21,34m/36,93m kênh mương, đạt tỷ lệ 36,7%, đáp ứng 70% nhu cầu sản xuất và dân sinh. Sự cải thiện này đã trực tiếp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai và tạo điều kiện cho kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển.

3.2. Nâng cấp mạng lưới điện trường học và cơ sở y tế

Chương trình đã đưa điện lưới quốc gia đến nhiều thôn bản vùng sâu, nâng tỷ lệ hộ sử dụng điện an toàn lên 87,12%. Về giáo dục, xã đã xây dựng kiên cố trường mầm non, tiểu học tại trung tâm và nâng cấp 7 điểm trường tại các thôn. Trạm y tế xã được xây mới với 12 giường bệnh, trang thiết bị đạt chuẩn, đảm bảo 100% người dân được cấp thẻ BHYT miễn phí. Theo báo cáo của trạm y tế xã, số lượt khám chữa bệnh tăng đều qua các năm, từ 5.011 lượt (năm 2014) lên 6.152 lượt (năm 2017), cho thấy khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân đã được cải thiện rõ rệt.

3.3. Hoàn thiện cơ sở vật chất văn hóa và nhà ở dân cư

Mặc dù còn khó khăn, xã đã đầu tư xây dựng nhà văn hóa tại 2/8 thôn (Díu Thượng, Na Lũng), tạo địa điểm sinh hoạt cộng đồng. Chợ trung tâm xã được duy trì và quy hoạch mở rộng. Một trong những thành tựu nổi bật là chương trình xóa nhà tạm. Đến năm 2016, toàn xã không còn nhà tạm, với 34,65% là nhà kiên cố và 65,35% là nhà bán kiên cố. Chính sách phát triển vùng cao này đã giúp người dân an cư, lạc nghiệp, tạo tiền đề vững chắc để tập trung phát triển kinh tế gia đình và tham gia tích cực vào các phong trào tại địa phương.

IV. Bí quyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn hiệu quả

Trọng tâm của chương trình xây dựng nông thôn mới tại Bản Díu là tái cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn được thực hiện đồng bộ trên nhiều phương diện. Thứ nhất, xã tập trung phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả. Thay vì canh tác truyền thống, người dân được hỗ trợ kỹ thuật, cây con giống mới có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh tốt. Các mô hình chăn nuôi gia súc theo hướng trang trại vừa và nhỏ, trồng cỏ thâm canh được nhân rộng, mang lại thu nhập ổn định. Thứ hai, xã khuyến khích đa dạng hóa ngành nghề, từng bước giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông sản, dịch vụ thương mại được tạo điều kiện phát triển. Tỷ lệ lao động công nghiệp và dịch vụ đã tăng dần, từ 5% (công nghiệp) và 7,5% (khác) năm 2015 lên 8% và 9% vào năm 2017. Sự thay đổi này cho thấy một bước tiến quan trọng trong việc thoát khỏi sự phụ thuộc vào nông nghiệp. Thứ ba, công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động được chú trọng, giúp người dân có thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập. Nhờ đó, thu nhập bình quân đầu người xã Bản Díu đã có sự cải thiện đáng kể, góp phần trực tiếp vào công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững tại Hà Giang.

4.1. Phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả

Xã Bản Díu đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa vào khảo nghiệm và sản xuất các giống lúa, ngô lai có năng suất cao. Trong chăn nuôi, xã đẩy mạnh phát triển đàn gia súc theo hướng hàng hóa, đặc biệt là trâu, bò, dê. Nhiều hộ gia đình đã chuyển đổi đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng cỏ để chủ động nguồn thức ăn chăn nuôi. Hợp tác xã (HTX) trên địa bàn hoạt động hiệu quả, đóng vai trò là cầu nối trong việc cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Những mô hình này không chỉ tăng sản lượng mà còn thay đổi tư duy sản xuất của người dân, từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa.

4.2. Đa dạng hóa ngành nghề thúc đẩy công nghiệp và dịch vụ

Bên cạnh nông nghiệp, xã đã khuyến khích phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực chế biến nông sản đã thu hút một lượng lao động địa phương. Các làng nghề sản xuất nông cụ truyền thống được duy trì. Hoạt động thương mại - dịch vụ tuy quy mô còn nhỏ nhưng đã phát triển hơn, đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng tăng. Theo Hình 3.1 trong khóa luận, tỷ lệ hộ tham gia vào ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 11% lên 20%, và thương mại dịch vụ tăng từ 4% lên 10% trong quá trình xây dựng NTM. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đang đi đúng hướng.

V. Đánh giá hiệu quả chương trình NTM đến kinh tế Bản Díu

Sau nhiều năm nỗ lực, hiệu quả chương trình NTM đối với phát triển kinh tế xã hội tại Bản Díu được thể hiện rõ nét qua các chỉ số kinh tế và sự cải thiện đời sống người dân. Tác động lớn nhất và trực tiếp nhất là sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người xã Bản Díu. Nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và áp dụng các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, thu nhập của các hộ gia đình đã tăng lên, giúp họ thoát khỏi cảnh đói nghèo. Công tác xóa đói giảm nghèo bền vững tại Hà Giang đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Theo số liệu của xã, dù áp dụng chuẩn nghèo mới khiến tỷ lệ hộ nghèo tăng vọt lên 42% vào năm 2016, nhưng ngay sau đó đã giảm xuống còn 36,7% vào năm 2017. Điều này cho thấy các chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm đã phát huy tác dụng. Đời sống người dân tộc thiểu số được cải thiện toàn diện. Không chỉ về vật chất (nhà ở kiên cố hơn, có tài sản giá trị), đời sống tinh thần cũng được nâng cao thông qua các hoạt động văn hóa, thể thao và việc tiếp cận thông tin dễ dàng hơn. Tỷ lệ hộ đạt danh hiệu gia đình văn hóa tăng từ 26,1% (2014) lên 39,1% (2017). Đây là những minh chứng sống động cho sự thành công của chương trình, khẳng định vai trò của cộng đồng trong xây dựng NTM.

5.1. Tác động tích cực đến thu nhập bình quân đầu người xã Bản Díu

Qua khảo sát 60 hộ tại 4 thôn, thu nhập bình quân đầu người đạt 26.953 đồng/người/năm (số liệu điều tra năm 2017). Mặc dù tiêu chí về thu nhập vẫn chưa đạt so với mục tiêu đề ra, nhưng đây là một sự cải thiện đáng kể so với trước đây. Nguồn thu nhập của người dân đã đa dạng hơn, không chỉ phụ thuộc vào trồng trọt, chăn nuôi mà còn đến từ các hoạt động công nghiệp, dịch vụ. Sự thay đổi này đã làm giảm đáng kể số hộ nghèo và tăng số hộ có mức sống trung bình và khá, thể hiện qua Biểu đồ 3.3 của khóa luận.

5.2. Phân tích hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo bền vững

Chương trình NTM đã tác động mạnh mẽ đến công tác giảm nghèo. Các chính sách hỗ trợ vốn, cây giống, vật nuôi, kỹ thuật đã giúp nhiều hộ dân vươn lên thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo đã có xu hướng giảm bền vững. Cụ thể, số hộ nghèo trong nhóm 60 hộ được điều tra đã giảm từ 28 hộ (46,7%) trước NTM xuống còn 16 hộ (26,7%) trong quá trình thực hiện NTM. Đây là kết quả trực tiếp của việc nâng cao năng lực sản xuất và tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn cho người dân địa phương. Hiệu quả chương trình NTM được thể hiện rõ nhất qua việc cải thiện cuộc sống của những hộ khó khăn nhất.

5.3. Sự thay đổi trong đời sống vật chất và tinh thần người dân

Chất lượng cuộc sống của người dân Bản Díu đã thay đổi rõ rệt. Về vật chất, tỷ lệ nhà kiên cố tăng lên, nhà tạm được xóa bỏ hoàn toàn. Các hộ gia đình đã có điều kiện sắm sửa các tiện nghi sinh hoạt hiện đại hơn. Về tinh thần, việc nâng cấp hạ tầng văn hóa, y tế, giáo dục đã mang lại lợi ích trực tiếp. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 100%. Trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt gần 100%. Các hủ tục lạc hậu dần được xóa bỏ, nếp sống văn minh được hình thành. Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa tăng đều qua các năm là một minh chứng cho sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và đời sống văn hóa của cộng đồng.

VI. Hướng đi tương lai cho phát triển kinh tế bền vững ở Bản Díu

Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, hành trình xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xã hội tại Bản Díu vẫn còn nhiều thách thức. Để đảm bảo sự phát triển bền vững, xã cần tập trung vào các giải pháp chiến lược trong giai đoạn tới. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là hệ thống giao thông đến các thôn bản còn khó khăn và kiên cố hóa toàn bộ hệ thống thủy lợi. Đồng thời, cần đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp chủ lực có giá trị cao, xây dựng thương hiệu và liên kết chuỗi giá trị. Việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là du lịch cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc, là một hướng đi đầy tiềm năng. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nghề và phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật vẫn là nhiệm vụ trọng tâm. Quan trọng hơn cả là phải phát huy vai trò của cộng đồng trong xây dựng NTM. Cần tăng cường sự tham gia, giám sát của người dân, khơi dậy nội lực và tinh thần tự chủ, để họ thực sự là người làm chủ quá trình phát triển của quê hương. Các chính sách phát triển vùng cao cần được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thực tiễn để tiếp tục hỗ trợ hiệu quả cho xã Bản Díu trên con đường phía trước.

6.1. Giải pháp phát huy tác động tích cực của chương trình NTM

Để phát huy những kết quả đã đạt được, xã cần tiếp tục duy trì và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ vào sản xuất, chế biến để nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản. Bên cạnh đó, việc quy hoạch và quản lý đất đai cần được thực hiện chặt chẽ để phục vụ phát triển bền vững. Cần có chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn, tạo thêm việc làm và thúc đẩy các ngành dịch vụ. Công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức và sự đồng thuận của người dân trong việc thực hiện các tiêu chí còn lại.

6.2. Hạn chế các tác động tiêu cực và thách thức còn tồn tại

Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình NTM cũng đối mặt với một số thách thức. Nguy cơ ô nhiễm môi trường từ rác thải sinh hoạt, chăn nuôi cần được kiểm soát chặt chẽ. Việc duy trì và bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống trong bối cảnh phát triển kinh tế cũng là một vấn đề cần quan tâm. Một số tiêu chí khó như thu nhập, môi trường, cơ cấu lao động vẫn chưa đạt và cần nguồn lực đầu tư lớn. Xã cần xây dựng lộ trình cụ thể, ưu tiên các hạng mục cấp thiết và lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới để giải quyết dứt điểm những tồn tại này.

6.3. Vai trò của cộng đồng trong xây dựng NTM giai đoạn mới

Giai đoạn tiếp theo đòi hỏi sự tham gia sâu rộng và chủ động hơn nữa từ người dân. Vai trò của cộng đồng trong xây dựng NTM không chỉ dừng lại ở việc đóng góp công sức, tiền của mà còn là tham gia vào quá trình lập kế hoạch, giám sát thực hiện và bảo quản các công trình sau đầu tư. Cần xây dựng các quy ước, hương ước làng xóm về trật tự an ninh, bảo vệ môi trường, xây dựng đời sống văn hóa. Khi người dân thực sự coi NTM là sự nghiệp của chính mình, sự phát triển của Bản Díu mới thực sự bền vững và mang lại lợi ích lâu dài cho toàn xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Đánh giá tác động của xây dựng nông thôn mới đến phát triển kinh tế của xã bản díu huyện xín mần tỉnh hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA XÃ HỘI TRONG NÔNG THÔN 1.Một số khái niệm 1. Nông thôn Từ các quan điểm về phân công lao động Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn. Có quan điểm cho rằng cần đưa các chỉ tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên đưa các chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường vốn.

Một số quan điểm khác nêu ra vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp. Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước. Nông thôn là khái niệm chỉ hệ thống cộng đồng xã hội lãnh thổ được hình thành trong quá trình phân công lao động xã hội mà ở đó mực sống của dân cư tương đối thấp, lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, mối quan hệ cộng đồng chặt chẽ; do vậy lối sống phương sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt so với cộng đồng thành thị. Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia trên thế giới.

Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường trong một cơ chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Đặc điểm của nông thôn: - Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của cộng đồng dân cư mà hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp. 6 - Cơ sở hình thành và trình độ tiếp cận thị trường, trình độ công nghiệp hóa hiện đạo hóa còn thấp so với thành thị.

- Trong một chừng mực nào đó tính dân chủ, tự do và công bằng xã hội thấp hơn thành thị. - Nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. - Người dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp nhưng thiếu đất để canh tác sản xuất. Nguyên nhân đất canh tác giảm là do mật độ tăng dân số cao và quá trình đô thị hóa.

- Lực lượng laođộng của nông thôn lớn nhưng lại thiếu việc làm, thất nghiệp, bán thất nghiệp vẫn thường xuyên xảy ra. Nguyên nhân chính do trình độ lao động thấp, hầu hết lao động đều không có tay nghề. - Thiếu các điều kiện và phương tiện để trang bị cho giáo dục. - Thiếu các cơ sở phương tiện và điều kiện vui chơi giải trí.Phát triển nông thôn Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với nhiều quan điểm khác nhau.

Đã có nhiều nghiên cứu và triển khai ứng dụng thuật ngữ này ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam thuật ngữ này được đề cập và có sự thay đổi nhận thức qua các thời kỳ. Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có sự tổng hợp lý luận về thuật ngữ này. Nhiều tổ chức phát triển quốc tế đã nghiên cứu và vận dụng thuật ngữ này ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả trong xã hội. Phát triển nông thôn là quá trình làm thay đổi bền vững có chủ ý về kinh tế xã hội văn hóa và môi trường nhằm nâng cao đời sống của người dân. Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế xã hội của một nhóm người cụ thểngười nghèo ở cùng nông thôn có được lợi tức từ việc phát triển. 7 Trong điều kiện của Việt Nam tổng hợp của các quan điểm từ các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Chính Phủ, thuật ngữ này được hiểu như sau: Phát triển nông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà Nước và các tổ chức khác.

Nông thôn mới Trong nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hôi từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý gắn nông nghiệp với phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ, gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải từ thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản như sau: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ và phát triển, xã hội nông thôn anh ninh tốt, quản lý dân chủ. Nông thôn mới chính là nông thôn tiến bộ, cơ sở hạ tầng đồng bộ, đời sống văn hóa phong phú. Song vẫn giữ được nét đẹp bản sắc truyền thống của nông thôn và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng.

Trước hết nông thôn mới phải là nơi sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm có năng suất, chất lượng cao theo hướng sản xuất hàng hóa. Bên cạnh đó nông thôn mới phải đảm nhận được vai trò giữa gìn văn hóa bản sắc dân tộc. Nếu quá trình nông thôn mới làm vỡ chức năng này là đi ngược lại với lòng dân và làm xóa nhòa truyền thống văn hóa muôn đời của người dân Việt Nam. 8 Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển, có sự đổi mới về tổ chức vận hành và cảnh quan môi trường đạt hiêu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường tiến bộ hơn so với mô hình cũ.

Như vậy có thể quan niệm, mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới đáp ứng được những yêu cầu mới đặt ra và phù hợp với điều kiện hiện nay. Đặc điểm của nông thôn mới: -Nông thôn là lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. -Xây dựng nông thôn mới có kết cấu cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại. -Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ, đô thị hóa theo quy hoạch.

-Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. - Dân trí của người dân được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của đảng được tăng cường. - Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân- nông dân- tri thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế xã hội chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Phát triển kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế.

Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống. Phát triển xã hội là thúc đẩy một cách bền vững xã hội xứng đáng với phẩm giá con người bằng cách trao quyền cho các nhóm yếu thế, phụ nữ và nam giới, để họ có thể tìm được cách thức riêng cải thiện cộng đồng của họ về địa vị kinh tế và để họ có được vị trí xứng đáng trong xã hội. Tiêu chí xác định nông thôn mới Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành kèm theo quyết định số 491/QĐ-TTG ngày 16 tháng 4 năm 2009 của thủ tướng chính phủ nêu rõ các tiêu chí xác định nông thôn mới. bộ tiêu chí chia thành 5 nhóm: Quy hoạch (1 tiêu chí); Hạ tầng kinh tế xã hội (8 tiêu chí);Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí); Văn hóa- Xã hội- Môi trường (4 tiêu chí); Hệ thống chính trị (2 tiêu chí).

Trong mỗi tiêu chí bao gồm các đầu mục chi tiết nhằm đánh giá chính xác thực trạng kinh tế - xã hội của mỗi xã, huyện, tỉnh. Từ đó giúp các cấp quản lý, ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của mỗi địa phương đưa ra được các phương án phù hợp với tình hình địa phương nhằm đạt kết quả thực hiện tốt nhất. Một số nội dung chủ yếu của chương trình xây dựng nông thôn mới - Quyết định số 800/QĐ-TTG ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM giai đoạn 2010-2020 xác định XDNTM là chương trình mục tiêu quốc gia và là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế xã hội chính trị và an ninh quốc phòng bao gồm các nội dung: + Quy hoạch XDNTM: Đây là nội dung căn bản và là cơ sở để có thể tiến hành các mục tiêu tiếp theo trong XDNTM bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế xã hội môi trường theo tiêu chuẩn mới; quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang lại các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh và bảo tồn được nét đẹp truyền thống. + Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại hóa cùng với việc hoàn thiện các giải pháp về quy hoạch thì phát triển cơ sở hạ tầng sẽ giúp thay đổi bộ mặt của nông thôn, tạo cơ sở cho phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ