CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG 1. Khái niệm về biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu có thể xác định được qua những biến đổi về trung bình hoặc sự biến động trong các thuộc tính của nó, duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên nội tại hoặc do các ngoại lực, các tác động nhân tạo đến thành phần khí quyển hoặc sử dụng đất (Theo IPCC, 2014). Tại Việt Nam, theo Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia về ứng phó với biến đổi khí hậu (2016) thì BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay do khai thác sử dụng đất. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu Có 2 nhóm nguyên nhân gây biến đổi khí hậu, là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Những tác động của con người vào môi trường tự nhiên chính là nguyên do gây nên biến đổi khí hậu, các hoạt động sản xuất, sinh hoạt gia tăng phát thải khí CO2 vào khí quyển. Hoặc do sự thay đổi trong chính nội tại của tự nhiên bao gồm sự thay đổi trong hoạt động mặt trời, của quỹ đạo trái đất, sự dịch chuyển của các châu lục, hoạt động núi lửa.
Theo IPCC (2013) nguyên nhân chính của sự nóng lên toàn cầu trong giai đoạn hiện nay bắt nguồn tự sự gia tăng khí nhà kính có nguồn gốc từ hoạt động của con người. Kịch bản biến đổi khí hậu Theo báo cáo đặc biệt năm 2000 về các kịch bản phát thải khí nhà kính, IPCC đã đưa ra 40 kịch bản, phản ánh khá đa dạng phát thải khí nhà kính trong thế kỷ 21 và được tổ hợp thành 4 kịch bản gốc là A1; A2; B1; B2 với các dự báo về phát triển kinh tế - xã hội khác nhau gây phát thải khí nhà kính khác nhau. Các kịch bản này được sắp xếp từ thấp đến cao, trong đó kịch bản thấp là B1, A1T; kịch bản trung bình là B2, A1B và kịch bản cao là A2, A1F1. Tuy nhiên, tổ chức này cũng khuyến cáo tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể 13 và khả năng tính toán của từng quốc gia mà xây dựng kịch bản riêng cho mình (IPCC).
Tại Việt Nam: Trên cơ sở khung kịch bản BĐKH do IPCC công bố, Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng kịch bản riêng cho mình. Đến nay đã có 4 lần công bố kịch bản, mới đây, kịch bản BĐKH năm 2020 đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố. Đây là phiên bản cập nhật mới nhất cho Việt Nam sau Báo cáo đánh giá lần thứ 5 (AR5) của Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu năm 2013 và các công bố mới nhất của IPCC (Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu) năm 2018 và 2019 về xu thế biến đổi khí hậu và nước biển dâng quy mô toàn cầu. Theo kịch bản, Biến đổi của nhiệt độ trung bình: Nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam có xu thế tăng dần.
Tính trung bình trên cả nước, nhiệt độ trung bình năm có xu thế tăng 0,89 oC tính từ năm 1958 đến 2018. Tuy nhiên mức độ tăng khác nhau, trong gần 30 năm đầu tăng chỉ 0,15 oC trong 30 năm sau tăng 0,74 oC. Tăng mạnh nhất trong khoảng 10 năm gần đây. Biến đổi của nhiệt độ cao nhất năm (TXx): Có xu thế tăng từ 0,2 oC đến 1,7 oC tăng cao ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, phía Nam vùng Đông Bắc, phía Bắc vùng Bắc Trung Bộ và phía Đông của Nam Bộ.
Biến đổi của nhiệt độ thấp nhất năm (TNn): Có xu thế tăng từ 1 oC (Đồng bằng Bắc Bộ, Nam Trung Bộ) đến 1,8 oC (Tây Nguyên), các vùng khác từ 1,2 oC đến 1,5 oC. Biến đổi của lượng mưa: Nhìn chung lượng mưa năm tính trung bình cho cả nước tăng nhẹ trên hầu hết các mùa ở các vùng khí hậu khác nhau, tăng nhiều vào mùa đông, giảm ở mùa hè và thu ở vùng khí hậu phía Bắc. Biến đổi của lượng mưa ngày lớn nhất (Rx) có có xu thế tăng ở vùng Đông Bắc, tại các tỉnh duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, phổ biến từ 20 đến 60%, có xu thế giảm ở hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, một phần Bắc Trung Bộ, cực Nam Trung Bộ và hầu khắp Tây Nam Bộ. Số ngày mưa lớn có xu thế tăng ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và giảm ở Tây Nguyên, Nam Bộ.
Biến đổi số ngày rét đậm, rét hại: Hiện tượng rét đậm, rét hại xuất hiện chủ yếu ở các vùng khí hậu phía Bắc nước ta. Khu vực Đông Bắc là khu vực có số ngày rét đậm, rét hại trung bình năm lớn nhất. Đặc biệt ở SaPa số ngày rét đậm xuất hiện lên tới khoảng 130 ngày/năm và rét hại khoảng 100 ngày/năm. Tiếp theo đó là Mộc Châu ở khu vực 14 Tây Bắc với 80 ngày rét đậm/năm, 60 ngày rét hại/năm.
Các khu vực còn lại số ngày rét đậm, rét hại dao động trong khoảng 20 ngày/năm (rét đậm), 15 ngày/năm (rét hại) và có xu hướng giảm dần khi tiến dần về phía Bắc Trung Bộ. Số ngày rét đậm có xu thế giảm rõ rệt, giảm phổ biến từ 10 đến 25 ngày/58 năm. Số ngày rét hại có xu thế giảm trên miền khí hậu phía Bắc, phổ biến từ 5 đến 20 ngày/58 năm. Biến đổi số ngày nắng nóng: Số ngày nắng nóng có xu thế tăng trên hầu hết các vùng khí hậu ngoại trừ SaPa, Đà Lạt, phổ biến từ 10 đến 40 ngày, tương đối nhiều ở phía Nam vùng Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ.
Biến đổi của bão và áp thấp nhiệt đới: Trung bình hàng năm có khoảng 12-13 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông. Có những năm nhiều nhất lên tới 20 cơn vào năm 2017; 19 cơn vào năm 1964, 2013; 18 cơn vào năm 1989, 1995 nhưng chỉ 4 cơn vào năm 1969; 6 cơn vào năm 1963, 1976, 2014, 2015. Tổng quan về hạn hán 1. Khái niệm về hạn hán Theo tổ chức khí tượng thế giới, hai định nghĩa về hạn hán như sau “Hạn hán là sự thiếu hụt kéo dài hoặc thiếu hụt nghiêm trọng lượng mưa” và “Hạn hán là giai đoạn thời tiết khô dị thường đủ dài, gây ra thiếu hụt lượng mưa, từ đó gây ra mất cân bằng trong hệ thống thủy văn”, (WMO,1992).
Tổ chức Nông Lương Thế giới, định nghĩa hạn hán là quảng thời gian trong năm khi năng suất cây trồng bị thiệt hại do thiếu hụt độ ẩm đất, (FAO, 1983). Theo Nguyễn Đức Ngữ, “Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng, kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng, phát dục của cây trồng, làm mùa màng thất bát, môi trường suy thoái gây ra đói nghèo và dịch bệnh”, (Nguyễn Đức Ngữ, 2002) Báo Điện tử Chính phủ có nhận định “Hạn là một hiện tượng tự nhiên được coi là thiên tai, tạo thành bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng lượng mưa trong thời gian kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây 15 đói nghèo dịch bệnh. nếu xắp xếp theo thứ tự gây thiệt hại về tài sản và sinh mạng trên toàn cầu thì hạn hán đứng thứ 4 sau lũ lụt, động đất và bão. Riêng đối với khu vực Tây Nguyên, hạn hán là thiên tai gây ảnh hưởng tiêu cực nhất tới đời sống, sản xuất”, (Báo Điện tử Chính phủ, 2020).
Phân loại hán hán Theo tổ chức Khí tượng Thế giới, hạn hán được phân ra 4 loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế- xã hội (WMO,1992). Hạn khí tượng: Xảy ra khi xuất hiện thiếu hụt nước trong cán cân lượng mưa - lượng bốc hơi, nhất là trong trường hợp liên tục không có mưa. Do lượng bốc hơi đồng biến với cường độ bức xạ, nhiệt độ, tốc độ gió và nghịch biến với độ ẩm nên hạn hán gia tăng khi nắng nhiều, nhiệt độ cao, gió mạnh, thời tiết khô ráo. Hạn nông nghiệp: Xảy ra khi xuất hiện thiếu hụt mưa dẫn tới mất cân bằng giữa lượng nước thực tế trong đất và nhu cầu nước của cây trồng.
Hạn nông nghiệp thực chất là hạn sinh lý được xác định bởi điều kiện nước thích nghi hoặc không thích nghi của cây trồng, hệ canh tác nông nghiệp, thảm thực vật tự nhiên. Ngoài lượng mưa ra, hạn nông nghiệp liên quan với nhiều điều kiện tự nhiên (địa hình, đất,.) và điều kiện xã hội (tưới, chế độ canh tác. Hạn thuỷ văn: Dòng chảy sông suối thấp hơn trung bình nhiều năm rõ rệt và mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất hạ thấp. Ngoài lượng mưa ra, hạn thuỷ văn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác: dòng chảy mặt, nước ngầm tầng nông, nước ngầm tầng sâu.
Thực trạng sản xuất cà phê trên thế giới và các giải pháp thích ứng hạn hán trong trồng cà phê 1. Thực trạng sản xuất, tiêu thụ cà phê trên thế giới Trên thế giới hiện nay có khoảng 80 nước trồng cà phê và tập trung chủ yếu ở Nam Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Có khoảng 10 triệu lao động tham gia sản xuất cà phê. Tổng diện tích cà phê toàn cầu niên vụ 2018 - 2019 khoảng 11 triệu ha, sản lượng khoảng 9 triệu tấn đem lại thu nhập cho trên 100 triệu người.
Nếu tính cả những người trồng, kinh doanh, dịch vụ tiêu thụ cà phê thì trên thế giới có khoảng 20-25 triệu người. Hiện nay có 56 nước xuất khẩu cà phê trên thế giới.