Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch toàn cầu năm 2016 đóng góp trực tiếp 2,3 nghìn tỷ USD vào GDP thế giới, chiếm tỷ trọng 3,1% và tạo ra khoảng 109 triệu việc làm. Tại Việt Nam, du lịch ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng với 10 triệu lượt khách quốc tế và 62 triệu lượt khách nội địa trong năm 2016, đóng góp trực tiếp 6,8% GDP quốc gia. Hòa chung xu thế đó, Khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng 50 km, là điểm đến tâm linh và danh thắng nổi tiếng với bề dày lịch sử hơn 500 năm. Điểm nhấn nổi bật của quần thể là động Hương Tích được mệnh danh "Nam thiên đệ nhất động", nằm xen giữa 3.320,41 ha rừng đặc dụng với độ che phủ 48%.

Tuy nhiên, đặc thù mùa vụ tạo nên sức ép môi trường nghiêm trọng khi lễ hội Chùa Hương diễn ra trong 3 tháng đầu năm thu hút từ 1,2 đến 1,4 triệu lượt khách, chiếm tới 90% tổng lượng du khách cả năm. Dòng người đổ về ồ ạt trong thời gian ngắn khiến lượng chất thải rắn sinh hoạt và nước thải gia tăng đột biến, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và cảnh quan suối Yến. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch, định lượng phát sinh rác thải, kiểm định chất lượng nước mặt suối Yến trong giai đoạn từ tháng 11/2017 đến tháng 4/2018, đồng thời kế thừa chuỗi dữ liệu 2009-2018. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp xác định ngưỡng chịu tải sinh thái và xây dựng các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm, bảo tồn nguồn gen 873 loài thực vật quý hiếm tại khu di tích.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển du lịch bền vững theo Luật Du lịch năm 2017, khẳng định sự phát triển du lịch phải đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Khái niệm môi trường được tiếp cận theo Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 như một hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ với hoạt động của con người.

Khung phân tích trung tâm là mô hình sức tải du lịch của Ceballos-Lascurain với hai chỉ tiêu nòng cốt: sức tải vật lý (PCC) và sức tải thực tế (ERCC). Mô hình này cho phép trừ đi các hệ số hiệu chỉnh giới hạn về điều kiện tự nhiên như 114 ngày mưa trung bình mỗi năm và 150 ngày nắng gắt mùa hè tại Hương Sơn. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường nước mặt và lý thuyết quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các điểm đến du lịch tâm linh, nơi chịu tác động mạnh từ chất thải hữu cơ và bao bì tiêu dùng nhanh.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:

  • Thu thập và kế thừa dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu thống kê du khách, hiện trạng sử dụng 4.089 ha đất tự nhiên xã Hương Sơn và các báo cáo môi trường giai đoạn 2009-2018 từ Ban quản lý khu di tích và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức.
  • Khảo sát xã hội học: Cỡ mẫu điều tra gồm 100 phiếu câu hỏi cấu trúc, phân bổ cho 70 khách du lịch nội địa và 30 hộ kinh doanh dịch vụ tại các khu vực tập trung đông người như Bến Trò, sân Thiên Trù và Động Hương Tích. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được lựa chọn nhằm phản ánh chân thực nhận thức của từng nhóm chủ thể. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 3 cán bộ quản lý di tích và 3 công nhân vệ sinh môi trường với tần suất 2 lần mỗi tháng.
  • Định lượng và phân tích thành phần rác thải: Thực hiện 4 đợt lấy mẫu rác trong mùa hội năm 2018. Mỗi đợt thu thập 100 kg mẫu rác đại diện từ 6 nhà hàng ăn uống (30 kg), 2 nhà trọ (10 kg), trụ sở Ban quản lý (10 kg), 5 quầy hàng rong (10 kg) và rác từ du khách (40 kg). Toàn bộ rác được trộn đều và rút gọn theo quy tắc đường chéo một phần tư xuống còn 20-30 kg để phân loại thủ công thành 3 nhóm: hữu cơ dễ phân hủy, tái chế và nhóm khác. Tiến hành cân ngẫu nhiên 10 xe thu gom rác đẩy tay thể tích 0,5 m3 để xác định dung trọng trung bình đạt 0,43 tấn/m3 rác thải.
  • Quan trắc chất lượng nước mặt suối Yến: Lấy mẫu tại 3 vị trí trọng điểm gồm Bến Yến (N01), Núi Đổi Chèo - Cầu Hội (N02) và Bến Trò (N03) qua 2 đợt đo vào tháng 1/2018 (trước lễ hội) và tháng 4/2018 (cao điểm lễ hội). Quy trình lấy mẫu cách bờ 1 m, độ sâu 25-30 cm theo tiêu chuẩn TCVN 6663-6:2008. Các mẫu được bảo quản tối và gửi đến phòng thí nghiệm của Viện Công nghệ Môi trường trong vòng 24 giờ để phân tích 9 chỉ tiêu: pH, DO, BOD5, COD, TSS, NH4+, PO43-, Coliform và E.coli. Kết quả được đối chiếu trực tiếp với QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, lượng khách du lịch vượt ngưỡng sức tải cục bộ trong mùa lễ hội. Khảo sát chuỗi số liệu 2009-2018 cho thấy lượng du khách liên tục duy trì ở mức trên 1,3 triệu lượt mỗi năm. Trong những ngày cao điểm như ngày mùng 6 tháng Giêng hay các kỳ nghỉ cuối tuần, lưu lượng khách tại tuyến Hương Tích vượt xa sức chứa thực tế ERCC, gây nên tình trạng ùn tắc kéo dài từ Bến Trò lên đến động Hương Tích.

Thứ hai, khối lượng rác thải phát sinh tăng đột biến với thành phần phức tạp. Với dung trọng 0,43 tấn/m3, lượng rác phát sinh trung bình trong 90 ngày lễ hội đạt hàng chục tấn mỗi ngày. Phân tích cơ cấu thành phần rác thải sinh hoạt năm 2018 xác định chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 52,4%, tiếp đến là nhóm nhựa, vỏ chai, túi nilon tái chế chiếm 28,6%, phần còn lại 19,0% là vàng mã, tàn hương và chất thải trơ.

Thứ ba, môi trường nước mặt suối Yến xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ rõ rệt trong mùa lễ hội. Kết quả quan trắc đợt 2 (tháng 4/2018) cho thấy chỉ số oxy hòa tan (DO) giảm mạnh so với đợt 1 (tháng 1/2018), trong khi nồng độ BOD5 và COD tăng gấp 2,5 đến 3,2 lần. Tại điểm quan trắc N03 khu vực Bến Trò, hàm lượng Amoni (NH4+) và Phosphat (PO43-) vượt ngưỡng cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1, mật độ vi khuẩn Coliform tăng vọt phản ánh sự xâm nhập của nguồn thải sinh hoạt chưa qua xử lý.

Thứ tư, công suất xử lý nước thải chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Trạm cấp nước Thiên Trù - Hương Tích cấp 750 m3/ngày đêm, kéo theo lượng nước thải sinh hoạt thải ra môi trường ước tính tương đương 90% tổng cấp nước đầu vào, đạt khoảng 675 m3/ngày đêm. Phần lớn lượng nước thải này chỉ lắng sơ bộ qua bể tự hoại 3 ngăn rồi thấm vào lòng đất hoặc rò rỉ trực tiếp ra hệ thống thủy vực.

Thảo luận kết quả

Các số liệu quan trắc được minh họa sinh động qua hệ thống biểu đồ và bảng đối chiếu. Cụ thể, biểu đồ biến thiên nồng độ chất lượng nước phản ánh đường dốc tăng vọt của các thông số BOD5 và Coliform từ vị trí N01 (Bến Yến) đến N03 (Bến Trò), chứng minh mật độ thuyền đò và nhà hàng ẩm thực là nguồn đóng góp ô nhiễm hữu cơ chủ đạo. Cơ cấu rác thải được trình bày qua biểu đồ tròn, làm nổi bật tỷ trọng lớn của chất thải nhựa dùng một lần. Bảng so sánh giữa sức tải vật lý PCC và sức tải thực tế ERCC chỉ rõ hệ số suy giảm do địa hình dốc đứng và điều kiện khí hậu.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ tính chất du lịch tâm linh tập trung quá mức trong thời gian ngắn, kết hợp cùng ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận du khách chưa cao và tập quán đốt nhiều vàng mã. So sánh với các nghiên cứu tại Vườn quốc gia Tam Đảo hay Sa Pa, hiện tượng suy thoái chất lượng nước và quá tải rác cục bộ tại Hương Sơn mang tính chu kỳ rõ nét hơn. Điều này khẳng định nếu không có phương án điều tiết lượng khách và đầu tư hạ tầng khép kín, tài nguyên cảnh quan danh thắng sẽ bị tổn hại nghiêm trọng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm và hướng tới phát triển du lịch bền vững, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Đầu tư nâng cấp công nghệ và hạ tầng xử lý nước thải tập trung: Xây dựng hệ thống mạng lưới thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt công nghệ sinh học hiếu khí cải tiến với công suất thiết kế 800 m3/ngày đêm tại khu vực Bến Trò - Thiên Trù. Mục tiêu đạt 100% nước thải sau xử lý đáp ứng quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 trước năm 2021. Đơn vị chủ trì thực hiện là UBND huyện Mỹ Đức phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.

  2. Hoàn thiện quy trình phân loại, thu gom và xử lý chất thải rắn: Bố trí lắp đặt 200 cụm thùng rác 2 ngăn phân loại tại nguồn dọc theo tuyến hành hương từ Bến Đục đến Động Hương Tích trước mùa hội 2019. Nâng cấp lò đốt rác công nghệ Nhật Bản tại khu vực Mả Mê lên công suất 15-20 tấn/ngày đêm, kết hợp chế biến phân vi sinh từ 50% lượng rác hữu cơ. Đơn vị chịu trách nhiệm là Công ty TNHH Yến Hương dưới sự giám sát của Ban quản lý di tích.

  3. Quy hoạch không gian kinh doanh và kiểm soát sức chứa du lịch: Quy hoạch dời chuyển 100% các hàng quán lấn chiếm lòng suối Yến và lối đi bộ, giới hạn số lượng phương tiện thuyền đò máy không quá 4.000 phương tiện đăng kiểm an toàn. Ứng dụng hệ thống kiểm soát vé điện tử để điều tiết lưu lượng khách tối đa không vượt quá 45.000 lượt/ngày vào các ngày nghỉ lễ cao điểm trong giai đoạn 2020-2022. Ban quản lý khu di tích Hương Sơn giữ vai trò điều phối chính.

  4. Nâng cao nhận thức cộng đồng và chế tài giám sát: Tổ chức ký cam kết bảo vệ môi trường cho 100% hộ kinh doanh ăn uống và chủ phương tiện vận tải đò. Tăng cường thanh tra liên ngành với tần suất 2 lần mỗi tuần trong 90 ngày diễn ra lễ hội, kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xả rác bừa bãi. UBND xã Hương Sơn và Đồn công an Hương Sơn phối hợp thực hiện liên tục hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban quản lý khu di tích: Ban quản lý di tích Hương Sơn, UBND huyện Mỹ Đức và Sở Du lịch Hà Nội có thể sử dụng dữ liệu tính toán sức chứa ERCC và bản đồ nguồn thải để xây dựng phương án phân luồng, cấp phép kinh doanh dịch vụ và phê duyệt kế hoạch bảo vệ môi trường mùa lễ hội hàng năm.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành môi trường, lâm nghiệp: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích mẫu rác thải sinh hoạt theo quy tắc chia tư, quy trình trắc nghiệm chất lượng nước mặt suối vùng núi đá vôi và phương pháp ứng dụng công thức Ceballos-Lascurain trong du lịch sinh thái.
  • Doanh nghiệp lữ hành và đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch: Giúp các công ty du lịch nắm bắt quy luật biến thiên sức tải để xây dựng các tour hành hương xanh, điều chỉnh lịch trình tham quan tránh khung giờ tắc nghẽn và nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
  • Tổ chức phi chính phủ và cộng đồng bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng số liệu về tính đa dạng sinh học của 873 loài thực vật và 288 loài động vật tại rừng đặc dụng Hương Sơn làm luận cứ xây dựng các dự án tài trợ truyền thông môi trường và bảo vệ nguồn gen quý hiếm.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động du lịch tại Chùa Hương tác động mạnh nhất đến thành phần môi trường nào? Tác động tiêu cực thể hiện rõ nhất ở môi trường nước mặt suối Yến và tình trạng ô nhiễm chất thải rắn sinh hoạt. Lượng khách 1,2 đến 1,4 triệu người trong 3 tháng xả ra khoảng 675 m3 nước thải sinh hoạt mỗi ngày, khiến chỉ số BOD5 và Coliform tại Bến Trò tăng mạnh trong mùa lễ hội.

Sức chứa thực tế tại khu di tích Chùa Hương được tính toán dựa trên các thông số nào? Sức chứa thực tế ERCC được tính từ sức chứa vật lý PCC sau khi trừ đi các hệ số giới hạn tự nhiên và nhân tạo. Các thông số chính gồm diện tích tuyến đi bộ, thời gian mở cửa 24 giờ mỗi ngày, khoảng cách tối thiểu 20 m giữa các nhóm 10 người, cùng hệ số hiệu chỉnh 114 ngày mưa và độ dốc địa hình.

Tỷ lệ các thành phần chính trong rác thải sinh hoạt mùa lễ hội Chùa Hương phân bố ra sao? Kết quả phân tích 4 đợt lấy mẫu thực nghiệm năm 2018 xác định rác hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ lớn nhất với 52,4%, rác thải nhựa và chai lọ tái chế chiếm 28,6%, còn lại 19,0% là giấy vàng mã và rác vô cơ. Dung trọng trung bình đạt 0,43 tấn/m3 rác thải.

Chất lượng nước mặt suối Yến thay đổi như thế nào trước và trong thời gian diễn ra lễ hội? Trước lễ hội vào tháng 1/2018, các chỉ tiêu nước mặt đều đạt chuẩn quy chuẩn môi trường. Đến tháng 4/2018 khi diễn ra lễ hội, nồng độ DO suy giảm, hàm lượng chất hữu cơ BOD5, COD, Amoni và Coliform tăng từ 2 đến hơn 3 lần, xuất hiện hiện tượng ô nhiễm hữu cơ cục bộ tại các bến đỗ thuyền.

Đâu là giải pháp đột phá để xử lý triệt để lượng nước thải sinh hoạt tại khu di tích? Giải pháp đột phá là đầu tư trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung công suất 800 m3/ngày đêm áp dụng công nghệ vi sinh hiện đại tại khu vực Thiên Trù. Công trình giúp thu gom và xử lý 100% nước thải từ các nhà hàng, nhà trọ đạt chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 trước khi thải ra suối.

Kết luận

  • Hoạt động du lịch lễ hội Chùa Hương mang lại giá trị kinh tế xã hội to lớn nhưng tạo ra áp lực môi trường cực đại với 1,2 đến 1,4 triệu lượt khách tập trung trong 90 ngày.
  • Quá tải sức chứa cục bộ là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm chất lượng nước mặt suối Yến, biểu hiện qua sự gia tăng nồng độ BOD5 và Coliform trong tháng 4/2018.
  • Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hàng chục tấn mỗi ngày với tỷ lệ hữu cơ chiếm 52,4% đòi hỏi giải pháp phân loại tại nguồn và công nghệ xử lý tiên tiến thay thế lò đốt thủ công.
  • Mô hình tính toán sức tải Ceballos-Lascurain đã cung cấp căn cứ định lượng xác thực để kiểm soát lưu lượng du khách theo từng cung giờ và tuyến điểm tham quan.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về hạ tầng xử lý nước thải, nâng cấp lò đốt rác Mả Mê, quy hoạch phân luồng và chế tài pháp lý là giải pháp mang tính chiến lược dài hạn.

Đóng góp then chốt của luận văn là đã lượng hóa thành công các tác động môi trường từ hoạt động du lịch tâm linh đặc thù, cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác cho công tác quản lý tài nguyên. Giai đoạn 2019-2025 đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích trong việc triển khai quy hoạch hạ tầng bảo vệ môi trường. Các nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp hành động ngay hôm nay để gìn giữ vẻ đẹp danh thắng Chùa Hương mãi trường tồn và phát triển bền vững.