Tổng quan nghiên cứu

Theo các báo cáo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhiệt độ trung bình năm tại Việt Nam đã tăng từ 0,5°C đến 0,7°C trong nửa thế kỷ qua và được dự báo sẽ tăng thêm từ 2,0°C đến 3,0°C vào cuối thế kỷ 21 theo kịch bản phát thải trung bình. Xu thế biến đổi này làm trầm trọng hóa tình trạng hạn hán cục bộ trong mùa khô và gia tăng cường độ mưa cực đoan trong mùa lũ. Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế đóng góp hơn 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và 30% giá trị xuất khẩu cả nước, song lại đối mặt với rủi ro khí hậu rất lớn do hơn 60% diện tích có cao độ địa hình tự nhiên dưới 2,0m. Tại khu vực ngoại thành, huyện Củ Chi với diện tích tự nhiên 43.450,2 ha giữ vai trò vành đai nông nghiệp sinh thái trọng điểm, đồng thời đang chịu sức ép nặng nề về an ninh nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

Vấn đề nghiên cứu then chốt của luận văn là làm rõ tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu đến sự gia tăng nhu cầu nước tưới và đánh giá định lượng khả năng cung cấp của hệ thống thủy lợi kênh Đông Củ Chi. Mục tiêu cụ thể bao gồm: tính toán nhu cầu nước của các loại cây trồng chủ lực trong điều kiện thời tiết hiện tại; mô phỏng nhu cầu dùng nước của toàn hệ thống theo kịch bản biến đổi khí hậu B2 ở các mốc thời gian năm 2020 và năm 2050; từ đó xác định mức độ thâm hụt nguồn nước và xây dựng các giải pháp ứng phó đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu tập trung trên toàn bộ vùng hưởng lợi của công trình với diện tích tưới thiết kế 14.500 ha và hơn 500 km kênh mương. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp bộ thông số định lượng chính xác giúp tối ưu hóa công tác phân phối nước cho 7.243,8 ha lúa Hè Thu, 8.145 ha lúa Mùa cùng 8.080 ha cây trồng cạn vụ Đông Xuân, giảm thiểu rủi ro kinh tế - xã hội cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cân bằng nước mặt ruộng kết hợp nguyên lý thủy lực công trình và quy hoạch tài nguyên nước. Phương trình cân bằng nước tổng quát được thiết lập trên cơ sở bảo đảm chế độ nước tối ưu theo công thức tưới tăng sản:

$$W_{ci} = W_{oi} + \sum m_i + \sum P_{oi} - \sum K_i - \sum ET_{ci} - \sum C$$

Trong đó, $W_{ci}$ và $W_{oi}$ lần lượt là lớp nước mặt ruộng cuối và đầu thời đoạn tính toán (mm); $\sum m_i$ là tổng lượng nước tưới bổ sung (mm); $\sum P_{oi}$ là lượng mưa hiệu quả (mm); $\sum K_i$ là lượng nước ngấm (mm/ngày); $\sum ET_{ci}$ là lượng bốc thoát hơi nước mặt ruộng (mm/ngày); và $\sum C$ là lượng nước tháo thừa khi vượt quá ngưỡng khống chế kỹ thuật.

Khung phân tích kế thừa mô hình xác định bốc thoát hơi nước chuẩn ($ET_0$) theo phương pháp Penman-Monteith do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) chuẩn hóa. Nhu cầu nước sinh học của cây trồng ($ET_c$) được tính thông qua hệ số phát triển $K_c$ theo công thức $ET_c = K_c \times ET_0$. Các khái niệm then chốt bao gồm: mức tưới thiết kế với tần suất bảo đảm nguồn nước $P = 85%$, lượng mưa hiệu quả với tỷ lệ lợi dụng thực tế 70%, và kịch bản biến đổi khí hậu trung bình B2 do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng chuỗi số liệu khí tượng quan trắc liên tục 30 năm (giai đoạn 1980 - 2009) tại trạm Tân Sơn Hòa, chuỗi số liệu mưa đo đạc 23 năm (giai đoạn 1988 - 2010), cùng chuỗi dữ liệu dòng chảy thực tế cấp qua kênh Đông kéo dài 25 năm (giai đoạn 1986 - 2011) do đơn vị quản lý khai thác cung cấp. Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc chọn mẫu đại diện khí hậu không gian: trạm Tân Sơn Hòa (106°40’ Đ, 10°49’ B) được lựa chọn do vị trí nằm liền kề khu vực tưới, có số liệu quan trắc đầy đủ, chuẩn hóa về nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, số giờ nắng và lượng bốc hơi bề mặt.

Quy trình phân tích kết hợp hai công cụ chuyên ngành:

  • Phần mềm TSTV-2002: Được chọn để xử lý thống kê chuỗi dữ liệu mưa thực đo, tính toán các tham số đặc trưng gồm lượng mưa trung bình ($X$), hệ số biến sai ($C_v$) và hệ số bất đối xứng ($C_s$). Công cụ này hỗ trợ chọn lọc chính xác mô hình phân phối mưa đại diện ứng với tần suất $P = 85%$ (năm 1999 cho vụ Hè Thu với lượng mưa 982,7 mm; năm 1996 cho vụ Mùa với lượng mưa 879,7 mm). Lý do lựa chọn TSTV-2002 là nhờ tính chuẩn hóa cao theo các quy chuẩn tính toán thủy văn hiện hành tại Việt Nam.
  • Phần mềm Cropwat 8.0: Được lựa chọn để mô phỏng nhu cầu tưới từng thời đoạn 10 ngày cho từng loại cây trồng. Lý do sử dụng Cropwat 8.0 là vì khả năng tự động hóa việc tính toán bốc thoát hơi nước chuẩn theo phương trình Penman-Monteith, tích hợp đầy đủ các thông số cơ lý đất nền Củ Chi như hệ số ngấm ổn định 2 mm/ngày, độ rỗng 50% và chiều sâu tầng đất canh tác 0,5m.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng chi tiết về nhu cầu nước của các nhóm đối tượng dùng nước chính trong hệ thống kênh Đông Củ Chi:

  • Nhu cầu tưới lúa vụ Hè Thu: Tổng mức tưới cả vụ đạt 544,6 mm. Đỉnh điểm tiêu thụ nước rơi vào tháng 4 với mức tưới 350,4 mm (chiếm 64,34% tổng lượng nước cả vụ) do trùng với thời kỳ làm đất, sạ và bén rễ khi lượng mưa tự nhiên còn rất thấp. Sang tháng 5, mức tưới giảm mạnh xuống 94,2 mm và chỉ còn 18,0 mm vào tháng 6 khi mùa mưa bắt đầu ổn định.
  • Nhu cầu tưới lúa vụ Mùa: Tổng mức tưới toàn vụ đạt 325,0 mm, thấp hơn 40,32% so với vụ Hè Thu. Nhu cầu tập trung chủ yếu vào tháng 8 với mức tưới 257,8 mm (chiếm 79,32% toàn vụ) phục vụ giai đoạn làm đất và đẻ nhánh, sau đó giảm xuống 12,2 mm trong tháng 9 và đạt 0,0 mm vào tháng 10 nhờ nguồn mưa dồi dào.
  • Nhu cầu nước cây trồng cạn vụ Đông Xuân: Cây Lạc có tổng mức tưới 215,1 mm, trong đó tháng 2 cần lượng nước cao nhất là 118,0 mm (chiếm 54,86%) và tháng 1 cần 61,5 mm. Đối với cây Ngô, giai đoạn trổ cờ và thụ phấn từ tháng 1 đến tháng 2 đòi hỏi hệ số sinh lý $K_c$ cao nhất (1,05 đến 1,20), tạo nên sự cạnh tranh nguồn nước gay gắt trong các tháng chính kiệt.
  • Tác động của kịch bản biến đổi khí hậu B2: Đến năm 2020 và năm 2050, nhiệt độ trung bình tăng khiến bốc thoát hơi nước tiềm năng $ET_0$ tăng từ 3,5% đến 6,8%. Đồng thời, lượng mưa mùa khô giảm từ 2% đến 6%, dẫn đến tổng nhu cầu nước toàn hệ thống tăng từ 4,2% (năm 2020) lên 8,6% (năm 2050). Lưu lượng thiết kế cấp qua kênh trong tháng 4 (35,73 triệu m³) và tháng 12 (29,60 triệu m³) đứng trước nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng khi phải đồng thời cấp nước cho nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi và nhà máy nước sạch.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến nhu cầu nước tưới tăng đột biến trong các tháng mùa khô xuất phát từ sự kết hợp bất lợi giữa bức xạ mặt trời cao (số giờ nắng tháng 3 và 4 đạt từ 9,5 đến 9,6 giờ/ngày) và lượng bốc hơi ống Piche tăng cao (tháng 3 đạt 149,9 mm, tháng 4 đạt 140,6 mm). So sánh với các nghiên cứu thủy lợi tại lưu vực sông Đồng Nai, hệ thống kênh Đông Củ Chi có mức độ tổn thương nguồn nước cao hơn do đặc thù kênh hở trải dài trên 500 km gây tổn thất ngấm và bốc hơi dọc tuyến lên tới 25% - 30%.

Để trực quan hóa các kết luận này, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ phân phối nhu cầu nước 10 ngày (hydrograph), phản ánh sự chênh lệch rõ nét giữa đường cấp nước từ hồ Dầu Tiếng và đường yêu cầu nước thực tế. Ngoài ra, bảng cân bằng nước tổng thể hàng tháng cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu tiêu thụ nước: tỷ trọng nước cho công nghiệp và sinh hoạt tăng dần từ 15% lên trên 28%, đòi hỏi hệ thống kênh Đông phải chuyển đổi từ phục vụ thuần nông nghiệp sang hệ thống cấp nước đa mục tiêu thích ứng thời tiết cực đoan.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Kiên cố hóa và hiện đại hóa mạng lưới kênh mương: Tiến hành bê tông hóa đồng bộ 100% các tuyến kênh nhánh cấp 2 và cấp 3 tại 5 cụm quản lý chính (N25, N25-2, N31A, N38, N43). Giải pháp này đặt mục tiêu giảm tổn thất rò rỉ và ngấm nước từ 25% - 30% hiện nay xuống dưới 15%; hoàn thành trong giai đoạn 2023 - 2026 dưới sự điều phối của Công ty TNHH MTV Quản lý khai thác dịch vụ thủy lợi TP. Hồ Chí Minh.
  • Chuyển đổi cơ cấu cây trồng và dịch chuyển lịch thời vụ: Điều chỉnh lịch xuống giống vụ Hè Thu sớm hơn 10 - 15 ngày để tận dụng mưa đầu mùa; đồng thời chuyển đổi khoảng 20% - 30% diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng cạn có mức tưới thấp như ngô lai và lạc (mức tưới chỉ từ 153 mm đến 215 mm). Mục tiêu tiết kiệm 25% lượng nước tiêu thụ trong các tháng cao điểm hạn kiệt (tháng 3 và 4); thực hiện trong lộ trình 2024 - 2028 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP. Hồ Chí Minh chủ trì.
  • Nhân rộng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước: Triển khai đại trà kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ (nông - lộ - phơi) cho toàn bộ 8.145 ha lúa và công nghệ tưới nhỏ giọt, phun mưa tự động cho diện tích hoa màu. Target metric là giảm 20% lượng nước mặt ruộng và tăng hiệu suất sử dụng nước lên 1,5 lần; triển khai từ năm 2024 đến 2029 bởi Trung tâm Khuyến nông và các Hợp tác xã nông nghiệp huyện Củ Chi.
  • Nâng cấp công nghệ giám sát và quy trình vận hành liên hồ chứa: Xây dựng hệ thống điều khiển tự động SCADA trên toàn tuyến kênh chính Đông, cập nhật quy trình xả và dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng theo thời gian thực dựa trên các kịch bản dự báo khí tượng thủy văn mới nhất. Mục tiêu duy trì lưu lượng ổn định từ 15,0 đến 35,0 triệu m³/tháng; hoàn thành trước năm 2027 do Ban Quản lý Đầu tư Xây dựng Thủy lợi TP. Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công ty TNHH MTV Khai thác Thủy lợi Dầu Tiếng - Phước Hòa thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Tài nguyên & Môi trường TP. Hồ Chí Minh và Chi cục Thủy lợi có thể sử dụng các số liệu cân bằng nước và phân tích kịch bản B2 làm căn cứ khoa học trực tiếp để phê duyệt quy hoạch thủy lợi, xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2025 - 2035.
  • Đơn vị quản lý và khai thác công trình thủy lợi: Công ty TNHH MTV Quản lý khai thác dịch vụ thủy lợi TP. Hồ Chí Minh ứng dụng các bảng tính chi tiết về mức tưới 10 ngày và lưu lượng phân phối hàng tháng để xây dựng lịch mở nước tối ưu cho các cụm kênh N25, N31A, N38 và N43.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành: Các nhà nghiên cứu thuộc khối ngành Quy hoạch và Quản lý tài nguyên nước, Thủy văn học, Kỹ thuật Công trình thủy lợi có thể kế thừa phương pháp kết hợp mô hình TSTV-2002 và Cropwat 8.0 trong việc giải quyết bài toán nhu cầu nước mặt ruộng thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Ban quản trị hợp tác xã và kỹ sư nông nghiệp địa phương: Vận dụng các thông số về nhu cầu tưới của lúa Hè Thu (544,6 mm), lúa Mùa (325,0 mm), cây lạc (215,1 mm) để hướng dẫn nông dân bố trí thời vụ và định mức cấp nước khoa học, tiết kiệm chi phí nhiên liệu bơm tưới.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nhu cầu nước của lúa vụ Hè Thu lại cao hơn đáng kể so với lúa vụ Mùa tại kênh Đông Củ Chi?
Tổng mức tưới vụ Hè Thu đạt 544,6 mm, cao hơn vụ Mùa (325,0 mm) khoảng 67,5%. Nguyên nhân là vụ Hè Thu bắt đầu từ tháng 4 – thời điểm đỉnh điểm của mùa khô với nhiệt độ trung bình trên 29,0°C và lượng bốc hơi đạt 140,6 mm, trong khi vụ Mùa diễn ra trong mùa mưa (tháng 8 đến tháng 11) nên được lượng mưa tự nhiên bù đắp phần lớn lượng bốc thoát hơi.

Phần mềm Cropwat 8.0 tính toán nhu cầu nước cho cây trồng dựa trên nguyên lý nào?
Cropwat 8.0 ứng dụng phương trình Penman-Monteith của FAO để xác định bốc thoát hơi nước chuẩn ($ET_0$) từ các yếu tố khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ, gió), sau đó nhân với hệ số sinh lý cây trồng ($K_c$) để tính $ET_c$. Lượng nước tưới bổ sung được xác định qua phương trình cân bằng ẩm tầng đất canh tác theo từng chu kỳ 10 ngày.

Kịch bản biến đổi khí hậu B2 tác động cụ thể ra sao đến nguồn nước kênh Đông Củ Chi?
Theo kịch bản B2, nhiệt độ khu vực tăng làm bốc thoát hơi nước tăng từ 3,5% đến 6,8%, trong khi lượng mưa mùa khô giảm từ 2% đến 6%. Điều này làm tổng nhu cầu nước toàn hệ thống tăng từ 4,2% đến 8,6% vào các năm 2020 và 2050, làm gia tăng nguy cơ thiếu hụt cục bộ từ 5,0 đến 12,0 triệu m³ nước trong các tháng 3 và 4.

Hệ thống thủy lợi kênh Đông Củ Chi có quy mô và nguồn cấp nước như thế nào?
Hệ thống được khởi công năm 1985 và kiên cố hóa từ năm 2002, tiếp nhận nguồn nước ngọt trực tiếp từ hồ Dầu Tiếng (Tây Ninh) qua kênh chính Đông. Công trình có nhiệm vụ phục vụ tưới tiêu thiết kế cho 14.500 ha đất canh tác với mạng lưới kênh mương dài hơn 500 km chia làm 5 cụm quản lý chính.

Giải pháp nào được đánh giá mang lại hiệu quả cao nhất để chống thất thoát nước?
Giải pháp kiên cố hóa toàn diện hệ thống kênh tưới cấp 2 và cấp 3 bằng bê tông đúc sẵn mang lại hiệu quả rõ rệt nhất. Thực tế kỹ thuật chứng minh giải pháp này giúp triệt tiêu hiện tượng sạt lở bờ kênh, giảm hệ số thấm $K$ qua nền đất xám, từ đó giảm tỷ lệ thất thoát nước từ mức 30% xuống dưới 15%.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa chính xác chế độ tưới cho các loại cây trồng chủ lực tại Củ Chi, xác định mức tưới lúa Hè Thu đạt 544,6 mm, lúa Mùa đạt 325,0 mm và cây Lạc đạt 215,1 mm.
  • Chuỗi số liệu khí tượng 30 năm và thủy văn 23 năm đã khẳng định tháng 3 và tháng 4 là giai đoạn căng thẳng nguồn nước nhất với lượng bốc hơi tiềm năng lên tới 140 - 150 mm/tháng.
  • Mô hình hóa theo kịch bản biến đổi khí hậu B2 chỉ ra rằng nhu cầu dùng nước của toàn hệ thống sẽ tăng từ 4,2% (năm 2020) lên 8,6% (năm 2050), gây áp lực lớn lên khả năng điều tiết của hồ Dầu Tiếng.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất kết hợp chặt chẽ giữa công trình kiên cố hóa 500 km kênh mương và phi công trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn nhằm bảo vệ nguồn nước bền vững.
  • Công trình cung cấp cơ sở khoa học và phương pháp luận chuẩn xác cho bài toán quản lý, phân bổ nguồn nước đa mục tiêu tại các hệ thống thủy nông khu vực Đông Nam Bộ.

Các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác cần nhanh chóng xây dựng lộ trình nâng cấp hạ tầng giai đoạn 2024 - 2030, đồng thời cập nhật công nghệ tự động hóa SCADA để chủ động ứng phó với các diễn biến khí hậu cực đoan. Hãy liên hệ các cơ sở đào tạo chuyên ngành thủy lợi để tiếp cận trọn vẹn mô hình tính toán và chuyển giao công nghệ quản lý tài nguyên nước tiên tiến.