PHẦN MỞ ĐẦU Thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần nâng cao thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam, phục vụ đắc lực cho Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Với tầm quan trọng của TDTT trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước, những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều quan tâm, chỉ đạo phát triển TDTT phù hợp với tình hình mới của đất nước. Minh chứng rõ ràng nhất là việc xây dựng và ban hành các chính sách về phát triển TDTT, tạo khung hành lang pháp lý thuận lợi cho việc phát triển TDTT rộng khắp từ trung ương tới địa phương. Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách phát triển TDTT là những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về TDTT.
Theo thẩm quyền, các cơ quan quản lý nhà nước về TDTT từ trung ương tới địa phương có trách nhiệm triển khai xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện những chính sách về phát triển TDTT. Đây là sự thể chế hóa của nhà nước về các quan điểm, giải pháp giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động TDTT. Chủ thể của chính sách thể dục, thể thao là Nhà nước; đối tượng của chính sách TDTT là những người làm công tác TDTT, những người tham gia các lĩnh vực hoạt động của TDTT; khách thể của chính sách TDTT là những vấn đề nảy sinh trong hoạt động TDTT. [23] Chính sách TDTT là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước về lĩnh vực TDTT.
Thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu phát triển TDTT được hiện thực hóa. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách về TDTT trong các văn bản quy phạm pháp luật về TDTT như: Luật Thể dục, Thể thao; Các nghị định, quyết định của Chính phủ; Các thông tư liên bộ; Chính sách phát triển nguồn lực TDTT; Chính sách phát triển hoạt động TDTT cho mọi người; Chính sách phát triển thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp; Chính sách phát triển đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho TDTT; Chính sách phát triển xã hội hóa TDTT; Chính sách phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật TDTT… Đặc biệt gần đây các chính sách dài hạn, trung hạn đã được ban hành với các mục tiêu dài hạn như: Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020; Quy hoạch phát triển TDTT Việt 2 Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Quy hoạch phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật TDTT Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Đề án tổng thể phát triển thể lực và tầm vóc người Việt Nam đến năm 2030 và nhiều đề án khác. Đến nay có rất nhiều nghiên cứu về TDTT cho mọi người trên cơ sở tiếp cận những lý luận chung của TDTT và thực tiễn hoạt động TDTT của các đối tượng khác nhau trong xã hội. Bản chất của TDTT cho mọi người là hoạt động tập luyện, vui chơi giải trí, thi đấu thể thao của các đối tượng nhân dân nhằm thỏa mãn nhu cầu giữ gìn sức khỏe, tăng cường thể chất, tinh thần của bản thân và tham gia các hoạt động văn hóa - xã hội của cộng đồng.
Từ thực tiễn phát triển TDTT, trong xã hội xuất hiện và mở rộng gắn liền với trào lưu xã hội được gọi là phong trào TDTT cho mọi người. Như vậy TDTT cho mọi người là phong trào xã hội có tính tự giác của nhân dân tham gia tập luyện TDTT để thỏa mãn nhu cầu bản thân bằng mọi phương tiện, bài tập, dưới mọi hình thức tổ chức, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Ngày nay phong trào TDTT cho mọi người đã mở rộng toàn cầu, trở thành một phong trào quốc tế của loài người, nên TDTT cho mọi người là thể thao cho tất cả mọi người (sport for all). [81] Hiện nay ở nước ta, phong trào TDTT cho mọi người phát triển rộng rãi theo hướng đẩy mạnh phát triển TDTT trong từng đối tượng, đặc biệt là học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang, nông dân, người cao tuổi.
Phong trào TDTT quần chúng trong cả nước diễn ra sôi nổi, với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Số lượng người tập TDTT thường xuyên, số câu lạc bộ TDTT gia tăng mạnh theo hàng năm. Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được triển khai rộng khắp cả nước đã phát huy hiệu quả thực tiễn và là động lực thúc đẩy phong trào TDTT ở cơ sở phát triển mạnh mẽ và gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Chương trình xây dựng nông thôn mới”. Các hoạt động TDTT giải trí gắn kết với hoạt động du lịch được tạo điều kiện phát triển ở nhiều địa phương; công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động TDTT quần chúng đạt được nhiều kết quả tích cực.
Công tác GDTC và thể thao trong nhà trường đã có những chuyển biến, dần đi vào nề nếp. Phong trào TDTT trong lực lượng vũ trang đạt được nhiều kết quả tốt, góp phần xây dựng lực lượng vũ 3 trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Phong trào TDTT trong cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có bước phát triển dù còn gặp nhiều khó khăn về thời gian, cơ sở vật chất, sân bãi cho hoạt động TDTT. Hoạt động TDTT trong lực lượng thanh thiếu niên tiếp tục được đẩy mạnh.
Hoạt động TDTT trong đối tượng người cao tuổi được phát triển rộng khắp cả nước, đặc biệt là ở thành phố, thị xã, thị trấn tập luyện TDTT đã trở thành một nhu cầu thiết yếu đối với người cao tuổi, góp phần nâng cao sức khỏe, tuổi thọ, cũng từng bước góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người cao tuổi. Hoạt động TDTT người khuyết tật được quan tâm, ngày càng phát triển, góp phần động viên, cổ vũ, tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia tập luyện TDTT, hoà nhập với cộng đồng. Công tác xã hội hóa hoạt động TDTT góp phần mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động các phong trào từ các xã, phường, thị trấn đến làng, bản, thôn, ấp, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân. Các chính sách phát triển TDTT nói chung, đặc biệt trong lĩnh vực TDTT cho mọi người nói riêng đã góp phần quan trọng vào việc phát triển sự nghiệp TDTT, nâng cao sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân.
[98] Đánh giá, phân tích tác động của chính sách đã ban hành trong thực thi chính sách là công việc thường xuyên của nhà quản lý. Tuy nhiên, phân tích chính sách không chỉ là nhu cầu của nhà quản lý, mà còn là nhu cầu của các tổ chức kinh doanh, nhu cầu của nhân dân; vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc đánh giá, phân tích tác động của chính sách là một phần của công tác phản biện xã hội về các chính sách đã ban hành. Khái niệm phản biện xã hội chưa được đề cập trong từ điển Tiếng Việt, nhưng được giải thích trong tài liệu “Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng” như sau: “Phản biện xã hội là sự phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học-công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan” [42]. Như vậy, mọi công dân đều 4 có quyền và trách nhiệm tham gia phản biện xã hội, do đó phản biện xã hội mang tính nhân dân cao và là một phần của đánh giá phân tích tác động của chính sách.
Thực tiễn thời gian qua hoạt động thể chế hóa chính sách trong lĩnh vực quản lý TDTT đã đồng nhất quy trình hoạch định xây dựng chính sách với quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (vốn đã được điều chỉnh theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Việc xây dựng chính sách đang lồng ghép hai quy trình cũng có thể là hai giai đoạn: xây dựng chính sách và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Chính vì lý do đó mà nhiều chính sách đã không được đưa vào cuộc sống và ngược lại nhiều văn bản quy phạm pháp luật chưa hoàn toàn xây dựng trên những cơ sở thực sự khoa học và sát với thực tiễn. Xuất phát từ thực tiễn trên, vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý TDTT quan tâm về nghiên cứu đánh giá mức độ tác động chính sách TDTT đối với sự phát triển TDTT và hiệu quả của quá trình thực thi chính sách chưa được nghiên cứu có tính hệ thống, khoa học, đặc biệt trong hoạt động TDTT cho mọi người.
Từ các nguyên nhân trên, đề tài luận án “Đánh giá hoạt động thể dục thể thao cho mọi người dưới tác động của chính sách phát triển thể dục thể thao” được tiến hành nghiên cưu là cần thiết, làm cơ sở khoa học cho các đề xuất, định hướng sửa đổi, bổ sung và hoạch định chính sách phát triển TDTT Việt Nam nói chung, phát triển TDTT cho mọi người nói riêng. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá hoạt động TDTT cho mọi người dưới tác động của chính sách TDTT do Đảng, Nhà nước, các ngành ban hành từ thời kỳ đổi mới đất nước đến nay; trên cơ sở đó, đưa ra những phản biện khoa học về quá trình thực thi chính sách và đề xuất các định hướng trong hoạch định chính sách phát triển TDTT cho mọi người trong thời gian tới. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu 1: Hệ thống hóa các chính sách phát triển TDTT cho mọi người: Xác định căn cứ và nội dung hệ thống hóa chính sách phát triển TDTT cho mọi người: 5 Hệ thống hóa các chính sách phát triển TDTT cho mọi người từ thời kỳ đổi mới tới nay.