Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển với hơn 75% dân số sinh sống tập trung tại các vùng duyên hải, thuộc nhóm năm quốc gia chịu tổn thất nặng nề nhất do biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng. Nằm ở dải ven biển Bắc Trung Bộ, tỉnh Hà Tĩnh có chiều dài bờ biển 137 km cùng 18.000 km2 diện tích mặt biển và 4 cửa sông lớn, thường xuyên đối mặt với các hình thế thời tiết cực đoan. Tại huyện Cẩm Xuyên với tổng diện tích 628,9 km2, dải ven biển trải dài 18 km bao gồm 7 xã ven biển và cửa sông đang chịu sức ép to lớn từ thiên tai, hạn hán, triều cường và hiện tượng xâm nhập mặn đã lấn sâu hơn 10 km vào các dòng sông.

Theo kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình tại Hà Tĩnh dự báo tăng 3,1 độ C và mực nước biển dâng lên đến 100 cm, làm ngập khoảng 143,9 km2 diện tích đất ven biển, đưa Hà Tĩnh thành địa phương có diện tích ngập lụt xếp thứ tư trên cả nước. Trước thực trạng đó, nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá toàn diện diễn biến các yếu tố khí hậu giai đoạn 1970 - 2014, phân tích tính dễ bị tổn thương sinh kế của 36.487 cư dân vùng ven biển Cẩm Xuyên, trọng tâm là xã Cẩm Lĩnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ hoạch định chính sách thích ứng, giảm thiểu rủi ro sinh kế và bảo vệ hệ sinh thái nhân văn bền vững cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng cách tiếp cận thích ứng dựa trên hệ sinh thái (Ecosystem-based Adaptation - EbA) kết hợp chặt chẽ với cách tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaptation - CBA). Cách tiếp cận EbA tập trung vào mối quan hệ tương hỗ giữa các dịch vụ hệ sinh thái và phúc lợi con người, xem việc duy trì tính toàn vẹn của tự nhiên là nền tảng để củng cố sức chống chịu của xã hội. Trong khi đó, cách tiếp cận CBA thúc đẩy nguyên tắc thực hiện từ cộng đồng, phát huy nguồn lực nội tại và tri thức bản địa kết hợp hài hòa giữa cơ chế từ dưới lên (Bottom-up) và chỉ đạo từ trên xuống (Top-down).

Mô hình nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Anh (DFID) với 5 nguồn vốn cốt lõi: nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn con người, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn vật chất và nguồn vốn tài chính. Các khái niệm trung tâm bao gồm tính dễ bị tổn thương, tính chống chịu - thích ứng và sinh kế thích ứng. Khung phân tích này liên kết trực tiếp với mô hình tương tác 7 pha của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC), từ hoạt động phát thải khí nhà kính, chu kỳ carbon, ấm lên toàn cầu cho đến các tác động cụ thể lên đời sống xã hội và chiến lược thích ứng bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa được thu thập trong giai đoạn từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 10 năm 2015. Dữ liệu thứ cấp bao gồm chuỗi số liệu khí tượng quan trắc nhiệt độ 45 năm (1970 - 2014) và lượng mưa 15 năm (2000 - 2014) từ Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Hà Tĩnh, kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia và niên giám thống kê kinh tế - xã hội huyện Cẩm Xuyên giai đoạn 2011 - 2015.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và thảo luận nhóm tập trung. Quy mô mẫu điều tra gồm 210 hộ gia đình tại xã Cẩm Lĩnh, được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho các ngành nghề: nông nghiệp trồng trọt, đánh bắt thủy sản, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Phương pháp phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê cao cho các nhóm sinh kế có mức độ nhạy cảm khí hậu khác nhau, giúp lượng hóa chính xác các tổn thương kinh tế và đánh giá đúng năng lực chống chịu của từng nhóm dân cư.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phân tích dữ liệu khí tượng giai đoạn 1970 - 2014 cho thấy nhiệt độ trung bình năm tại Hà Tĩnh tăng từ 0,1 đến 0,2 độ C sau mỗi thập kỷ. Lượng mưa trung bình năm đạt trên 2.000 mm, trong đó mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 10 chiếm tới 80% tổng lượng mưa cả năm nhưng có xu hướng kết thúc sớm và xuất hiện nhiều đợt mưa cường suất cực đoan gây ngập úng nghiêm trọng.

Thứ hai, áp lực dân số và sự phụ thuộc sinh kế tự nhiên ở 7 xã ven biển huyện Cẩm Xuyên rất lớn. Mật độ dân số trung bình vùng đạt 457 người/km2, gấp hơn hai lần mức trung bình 210 người/km2 của toàn tỉnh, đặc biệt tại xã Cẩm Nhượng mật độ lên tới 2.965 người/km2. Thu nhập bình quân đầu người của cư dân ven biển chỉ đạt 18,2 triệu đồng/người/năm, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 23 triệu đồng/người/năm của huyện Cẩm Xuyên.

Thứ ba, kết quả khảo sát 210 hộ dân tại xã Cẩm Lĩnh đã định lượng rõ các rào cản phát triển kinh tế: 33,8% số hộ cho rằng khó khăn lớn nhất là thiếu vốn đầu tư sản xuất; 24,3% số hộ khẳng định thời tiết, khí hậu cực đoan là trở ngại nghiêm trọng nhất; 13,8% số hộ gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ nông thủy sản. Bên cạnh đó, có đến 90% lực lượng lao động địa phương (trong tổng số 3.320 lao động) chưa qua đào tạo nghề chuyên môn, khiến khả năng chuyển đổi công việc khi gặp thiên tai bị hạn chế rõ rệt.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu kinh tế của các địa phương ven biển bộc lộ tính tổn thương cao trước biến đổi khí hậu do phụ thuộc sâu sắc vào nông - lâm - ngư nghiệp. Tại xã Cẩm Lĩnh, lĩnh vực nông lâm thủy sản đóng góp tới 81,6 tỷ đồng, chiếm gần 78% tổng thu nhập 104,4 tỷ đồng của xã năm 2014. Tuy nhiên, diện tích đất canh tác nông nghiệp bình quân chỉ có 300 m2 đất/lao động (tương đương 0,31 ha đất nông nghiệp/người), trong khi hơn 15 ha đất và nguồn nước mặt đã bị nhiễm mặn và nhiễm phèn nặng.

Các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu lao động (thể hiện 75% lao động làm nông lâm ngư nghiệp, 10% làm muối, 10% dịch vụ thương mại) và ma trận đánh giá tính tổn thương 5 nguồn vốn sinh kế DFID. So sánh với các báo cáo đánh giá của Ngân hàng Thế giới và kịch bản ngập lụt của Bộ Tài nguyên và Môi trường, vùng ven bờ Cẩm Xuyên thể hiện đầy đủ các đặc tính của một hệ sinh thái - nhân văn nhạy cảm: vốn tự nhiên suy thoái do xói lở bờ biển, vốn vật chất thiếu kiên cố trước bão cấp 8 - 12, và nguồn vốn tài chính mỏng manh do tích lũy thấp. Điều này khẳng định sự cấp thiết phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ khai thác thụ động sang thích ứng chủ động.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và quy hoạch không gian sinh thái: Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Xuyên chủ trì rà soát, tích hợp kịch bản biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020. Thiết lập các vùng chuyên canh an toàn gồm 150 ha lúa thâm canh năng suất cao và 40 ha cây công nghiệp ngắn ngày chịu hạn mặn, hoàn thành trước quý 4 năm 2017.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu lao động và sinh kế thích ứng: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Cẩm Lĩnh triển khai chương trình đào tạo nghề cho khoảng 200 lao động mỗi năm, phấn đấu giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 75% xuống dưới 40% vào năm 2020. Tổ chức chuyển dịch việc làm cho 350 - 400 lao động sang các ngành cơ khí, dịch vụ du lịch Thiên Cầm và xuất khẩu lao động.

Thứ ba, phát triển các mô hình kinh tế xanh dựa vào hệ sinh thái: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tĩnh hỗ trợ địa phương trồng mới 10 ha rừng ngập mặn phòng hộ chắn sóng cửa sông, phát triển 2 vạn cây phân tán và đầu tư công nghệ nuôi trồng thủy hải sản an toàn dịch bệnh, hướng tới mục tiêu sản lượng đánh bắt và nuôi trồng đạt 1.300 - 1.500 tấn/năm vào năm 2020.

Thứ tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng đa mục tiêu và năng lực cảnh báo sớm: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai huyện đầu tư kiên cố hóa hệ thống đê biển Cẩm Nhượng - Cẩm Lĩnh, nạo vét và nâng cấp các hồ đập Khe Lau, Khe Dinh để chủ động trữ ngọt phục vụ tưới tiêu cho hơn 235 ha đất sản xuất. Mục tiêu giảm thiểu 50% thiệt hại kinh tế do ngập úng và triều cường gây ra trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý và hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện: Lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tĩnh, Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Xuyên có thể ứng dụng ma trận đánh giá tính dễ bị tổn thương để xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu và quy hoạch sử dụng đất cấp cơ sở.

Nhóm chuyên gia nghiên cứu và giảng viên học thuật: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường, Biến đổi khí hậu và Phát triển bền vững có thể tham khảo quy trình tích hợp phương pháp tiếp cận EbA, CBA và khung DFID như một tài liệu nghiên cứu chuẩn mực cho các hệ sinh thái ven biển miền Trung.

Nhóm các tổ chức phát triển phi chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế: Các đại diện từ UNDP, Quỹ Môi trường Toàn cầu, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể sử dụng dữ liệu thực chứng của 210 hộ khảo sát để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, hỗ trợ vốn vay vi mô và phục hồi đai rừng ven biển.

Nhóm sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Môi trường: Học viên có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp hồi cứu khí tượng 45 năm với công cụ PRA thực địa để phát triển các đề tài luận văn thạc sĩ về quản lý rủi ro thiên tai.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao vùng ven biển huyện Cẩm Xuyên lại có tính dễ bị tổn thương cao trước biến đổi khí hậu? Do địa hình vùng ven biển Cẩm Xuyên thấp trũng với cao độ trung bình chỉ từ 2 đến 3 mét, mật độ dân cư đông đúc 457 người/km2 và sinh kế có tới 78% giá trị thu nhập dựa vào nông lâm ngư nghiệp. Hiện tượng xâm nhập mặn lấn sâu trên 10 km cùng tần suất 3 đến 4 cơn bão mạnh mỗi năm đe dọa trực tiếp tài sản và nguồn sống của cư dân.

Khung sinh kế bền vững DFID được vận dụng như thế nào trong nghiên cứu này? Khung DFID được sử dụng để đánh giá toàn diện 5 nguồn vốn sinh kế của 210 hộ dân tại xã Cẩm Lĩnh. Kết quả phân tích đã định lượng được những điểm nghẽn lớn nhất: 33,8% hộ thiếu vốn tài chính, 90% lao động thiếu kỹ năng nghề chuyên môn và hạ tầng thủy lợi thường xuyên bị đe dọa bởi triều cường, giúp định hình các can thiệp chính sách chính xác.

Kịch bản biến đổi khí hậu tác động ra sao đến tài nguyên đất đai tỉnh Hà Tĩnh? Theo kịch bản công bố năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mực nước biển dâng 100 cm vào cuối thế kỷ 21 sẽ làm ngập 143,9 km2 diện tích ven biển Hà Tĩnh. Địa phương này trở thành tỉnh có nguy cơ mất đất lớn thứ tư toàn quốc, đòi hỏi các công trình đê kè và hồ đập trữ ngọt phải được nâng cấp ngay từ giai đoạn 2016 - 2020.

Các giải pháp sinh kế thích ứng trọng tâm nào được đề xuất cho xã Cẩm Lĩnh? Đề tài đề xuất mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên 190 ha đất lúa và cây công nghiệp ngắn ngày, trồng 10 ha rừng phòng hộ ven biển, kết hợp hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ. Mục tiêu nhằm nâng mức thu nhập bình quân đầu người từ 18,2 triệu đồng lên 28 triệu đồng/năm vào năm 2020.

Cộng đồng địa phương đóng vai trò gì trong kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu? Cộng đồng là chủ thể trung tâm tham gia lập kế hoạch, giám sát công trình hạ tầng và trực tiếp vận hành phương châm 4 tại chỗ trong phòng chống thiên tai. Việc kết hợp tri thức bản địa với thông tin dự báo khí tượng hiện đại giúp nâng cao tính chủ động và giảm thiểu tối đa thiệt hại thực tế.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích có hệ thống chuỗi số liệu khí tượng 45 năm (1970 - 2014) tại Hà Tĩnh, chỉ ra xu thế nhiệt độ tăng 0,1 - 0,2 độ C mỗi thập kỷ và sự bất thường của mùa mưa lũ.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng sinh kế của 7 xã ven biển huyện Cẩm Xuyên và 210 hộ điều tra tại xã Cẩm Lĩnh, làm rõ các điểm nghẽn về vốn đầu tư (33,8% hộ thiếu vốn) và trình độ lao động (90% chưa qua đào tạo).
  • Thiết lập khung lý thuyết liên ngành tích hợp phương pháp EbA, CBA và mô hình sinh kế DFID, mang lại giá trị phương pháp luận khoa học cao.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược về thể chế, chuyển đổi sinh kế, bảo vệ hệ sinh thái và kiên cố hóa cơ sở hạ tầng với mục tiêu cụ thể đến năm 2020.
  • Đóng góp luận cứ khoa học then chốt phục vụ việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu của tỉnh Hà Tĩnh.

Trong lộ trình giai đoạn 2016 - 2020, chính quyền huyện Cẩm Xuyên và các xã ven bờ cần khẩn trương lồng ghép các chỉ tiêu sinh kế thích ứng vào chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Việc huy động nguồn lực đầu tư cho hệ thống đê biển, phát triển đai rừng phòng hộ và đào tạo nghề chuyển đổi cho lao động địa phương là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững trước thách thức biến đổi khí hậu.