Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Cái Nha Trang với diện tích khoảng 2.000 km2 và chiều dài dòng chính 79 km giữ vai trò sống còn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa. Chế độ thủy văn trên lưu vực thể hiện sự phân hóa mùa sâu sắc khi lượng dòng chảy trong 4 tháng mùa lũ chiếm tới 65% – 66% tổng lượng nước cả năm, trong khi 8 tháng mùa cạn chỉ chiếm 34% – 35%. Trong bối cảnh nóng lên toàn cầu, tính chất cực đoan của thời tiết ngày càng gia tăng, dẫn đến sự xuất hiện đan xen của các trận lũ lịch sử với lưu lượng đỉnh vượt 2.730 m3/s và những đợt hạn hán gay gắt khiến dòng chảy kiệt xuống mức dưới 3% tổng lượng năm.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu ứng dụng mô hình thủy văn phân bố bán cấu trúc SWAT (Soil and Water Assessment Tool) để lượng hóa tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy mùa lũ và dòng chảy cực trị tại trạm thủy văn Đồng Trăng. Phạm vi nghiên cứu bao trùm toàn bộ lưu vực tính đến trạm Đồng Trăng, sử dụng chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn giai đoạn 1976 – 2016 kết hợp cùng kịch bản biến đổi khí hậu RCP4.5 và RCP8.5 cập nhật cho giai đoạn giữa thế kỷ (2046 – 2065) và cuối thế kỷ (2080 – 2099). Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nằm ở việc cung cấp cơ sở dữ liệu dự báo định lượng, phục vụ trực tiếp cho công tác quy hoạch đê điều, vận hành hồ chứa và bảo vệ an toàn cho hơn 552.060 người dân cùng các cơ sở sản xuất công nghiệp có giá trị hơn 8.343 tỷ đồng tại vùng hạ lưu thành phố Nha Trang.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết chu trình thủy văn lưu vực và phương trình cân bằng nước tổng quát, mô tả sự tương tác giữa lượng mưa rơi, dòng chảy mặt, bốc thoát hơi nước thực tế, lượng thấm và dòng ngầm tầng nông. Hai trụ cột lý thuyết chính được tích hợp bao gồm:

  • Phương pháp số đường cong thực nghiệm SCS (Soil Conservation Service) kết hợp phương trình thấm Green & Ampt nhằm xác định chính xác lượng mưa hiệu quả và lượng dòng chảy tràn bề mặt theo từng bước thời gian.
  • Lý thuyết bốc thoát hơi tiềm năng theo mô hình Penman-Monteith và phương pháp diễn toán dòng chảy trong mạng lưới sông suối Muskingum.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm Đơn vị phản ứng thủy văn (HRU), Hệ số thoái suy dòng chảy ngầm, Chỉ số diện tích lá thảm phủ thực vật và Kịch bản nồng độ phát thải đại diện khí nhà kính.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào phục vụ mô hình bao gồm:

  • Mô hình số độ cao DEM trích xuất địa hình lưu vực với độ dốc sườn núi trung bình 16%.
  • Bản đồ thổ nhưỡng chi tiết gồm nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 300.850 ha và đất phù sa 33.056 ha.
  • Bản đồ thảm phủ thực vật phân hóa theo các đai độ cao từ dưới 100 m đến trên 1.400 m.
  • Chuỗi số liệu khí tượng thủy văn quan trắc liên tục từ 4 trạm cơ bản gồm Nha Trang, Diên An, Đồng Trăng và Khánh Vĩnh trong hơn 40 năm.

Phương pháp nghiên cứu cốt lõi là mô hình hóa toán học với phần mềm SWAT 2012 tích hợp môi trường ArcGIS. Chuỗi số liệu dòng chảy thực đo tại trạm Đồng Trăng được phân tách thành giai đoạn hiệu chỉnh và kiểm định mô hình, áp dụng cho cả bước thời gian ngày và bước thời gian giờ với các trận lũ lớn năm 1998, 2009, 2010 và 2016. Phương pháp phân tích độ nhạy và tối ưu hóa bộ thông số được lựa chọn nhằm đảm bảo hệ số hiệu quả Nash-Sutcliffe (NSE) đạt trên 0,75 và hệ số tương quan R2 đạt trên 0,80, phản ánh trung thực đặc tính thấm và khả năng truyền lũ của lưu vực sông miền Trung.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình mô phỏng và phân tích các kịch bản khí hậu mang lại những phát hiện quan trọng về động lực dòng chảy:

  • Sự gia tăng mạnh mẽ của lượng mưa cực đoan: Theo kịch bản phát thải trung bình RCP4.5, lượng mưa 5 ngày lớn nhất vào giữa thế kỷ tăng 44,5% và cuối thế kỷ tăng 22,6% so với thời kỳ nền. Ở kịch bản phát thải cao RCP8.5, mức tăng lượng mưa 5 ngày lớn nhất ghi nhận tương ứng là 18,5% vào giữa thế kỷ và 16,4% vào cuối thế kỷ.
  • Dịch chuyển phân bố lượng mưa mùa: Lượng mưa các tháng mùa đông (tháng X – XII) có xu thế tăng vọt từ 21,1% đến 37,0% theo kịch bản RCP4.5 và tăng từ 30,0% lên 55,6% theo kịch bản RCP8.5 vào cuối thế kỷ, làm tăng đáng kể tổng lượng nước mùa mưa lũ.
  • Gia tăng biên độ và đỉnh lũ tại trạm Đồng Trăng: Dòng chảy mùa lũ có xu hướng gia tăng từ 15% đến trên 32% vào các giai đoạn tương lai. Đỉnh lũ cực trị có nguy cơ vượt qua mốc lũ lịch sử 2.730 m3/s của năm 2009, đạt mức dự báo trên 3.100 m3/s trong các kịch bản cực đoan cuối thế kỷ, kéo theo biên độ dao động mực nước lũ tăng từ mức trung bình 6,2 m lên trên 8,5 m.

Thảo luận kết quả

Sự biến động dòng chảy bắt nguồn từ sự kết hợp giữa lượng mưa cực đoan trong thời đoạn ngắn và đặc điểm hình thái lưu vực dạng cành cây với độ dốc lòng dẫn lớn. Cường suất lũ tại trạm Đồng Trăng trong các kịch bản mới có xu hướng vượt ngưỡng trung bình 0,75 m/h, tiệm cận mức cực đại lịch sử 2,01 m/h. So sánh với các nghiên cứu thủy văn trước đây trên các sông lân cận thuộc dải Nam Trung Bộ, kết quả của luận văn phản ánh mức độ tập trung dòng chảy nhanh hơn do độ che phủ rừng vùng trung du bị biến động.

Các kết quả mô phỏng thủy văn được biểu diễn chi tiết qua hệ thống biểu đồ đường quá trình lưu lượng (hydrograph) so sánh giữa dòng chảy thực đo và tính toán theo bước thời gian ngày và giờ. Đồng thời, bảng tổng hợp phân phối dòng chảy tháng và các đường cong tần suất lý luận lượng mưa 5 ngày lớn nhất giai đoạn 1986 – 2005 minh chứng trực quan mức độ sai lệch dòng chảy giữa thời kỳ nền và các mốc tương lai, tạo cơ sở tin cậy cho công tác đánh giá ngập lụt.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng, bốn nhóm giải pháp hành động được kiến nghị triển khai theo lộ trình cụ thể:

  • Nâng cấp công trình thoát lũ hạ du: Quy hoạch và gia cố hệ thống đê bao, nạo vét lòng dẫn sông Cái đoạn qua huyện Diên Khánh và thành phố Nha Trang nhằm đảm bảo khả năng thoát lưu lượng đỉnh lũ thiết kế trên 3.000 m3/s trước năm 2030, do Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn làm chủ đầu tư.
  • Mở rộng mạng lưới quan trắc tự động: Thiết lập thêm tối thiểu 6 trạm đo mưa tự động tại thượng nguồn huyện Khánh Vĩnh và nâng cấp trạm Đồng Trăng thành trạm cảnh báo sớm thời gian thực trước năm 2028, thực hiện bởi Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Trung Bộ.
  • Phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn: Thực hiện trồng mới và bảo vệ nghiêm ngặt 20.000 ha rừng nguyên sinh và rừng đầu nguồn tại các đai độ cao trên 1.000 m, nhằm nâng tỷ lệ che phủ rừng lên trên 55% vào năm 2035, do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp cùng các ban quản lý rừng triển khai.
  • Hoàn thiện quy trình vận hành liên hồ chứa: Xây dựng và ban hành quy chế phối hợp điều tiết lũ thông minh cho các hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên lưu vực sông Cái dựa trên kịch bản khí hậu RCP4.5 và RCP8.5, hoàn thành thử nghiệm trong giai đoạn 2027 – 2029 để cắt giảm tối thiểu 15% – 20% lưu lượng đỉnh lũ đổ về hạ du.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và sản phẩm mô hình hóa của luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý phòng chống thiên tai tỉnh Khánh Hòa: Sử dụng các mốc dự báo lưu lượng đỉnh lũ và lượng mưa 5 ngày lớn nhất để xây dựng bản đồ cảnh báo ngập úng chi tiết cho các khu dân cư trũng thấp tại Diên Khánh và Nha Trang.
  • Đơn vị tư vấn và thiết kế công trình thủy lợi, giao thông: Ứng dụng số liệu dòng chảy cực trị để tính toán khẩu độ cầu, kích thước cống thoát nước và chiều cao an toàn của các tuyến đê kè ven sông.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Khí tượng, Thủy văn, Biến đổi khí hậu: Tham khảo tài liệu như một cẩm nang mẫu mực về quy trình thiết lập, hiệu chỉnh và kiểm định mô hình SWAT theo bước thời gian ngày và giờ trên lưu vực sông miền Trung.
  • Các tổ chức phát triển và quản lý tài nguyên môi trường: Khai thác dữ liệu cân bằng nước mặt để xây dựng các dự án sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào lưu vực sông.

Câu hỏi thường gặp

  • Mô hình SWAT có ưu điểm gì nổi bật khi ứng dụng cho lưu vực sông Cái Nha Trang? SWAT là mô hình thủy văn phân bố bán cấu trúc cho phép chia nhỏ lưu vực thành các tiểu lưu vực và đơn vị phản ứng thủy văn HRU đồng nhất về thổ nhưỡng, địa hình và thảm phủ. Điều này giúp phản ánh chính xác cơ chế hình thành dòng chảy trên địa hình đồi núi dốc và bề mặt đệm phức tạp của lưu vực sông Cái.
  • Biến đổi khí hậu tác động như thế nào đến lưu lượng đỉnh lũ tại trạm Đồng Trăng? Dưới tác động của kịch bản RCP4.5 và RCP8.5, lượng mưa cực đoan 5 ngày lớn nhất tăng từ 16,4% đến 44,5%, làm lưu lượng đỉnh lũ tại trạm Đồng Trăng có thể vượt mốc 2.730 m3/s của trận lũ lịch sử năm 2009, gia tăng nguy cơ ngập lụt sâu diện rộng tại vùng hạ du.
  • Tại sao cần hiệu chỉnh mô hình SWAT theo bước thời gian giờ bên cạnh bước thời gian ngày? Lưu vực sông Cái có độ dốc trung bình vùng núi lên tới 16%, lũ lên nhanh và rút đột ngột với cường suất lớn. Việc mô phỏng theo bước thời gian giờ là bắt buộc để tái hiện chính xác hình dạng răng cưa của đỉnh lũ và thời gian tập trung nước của các trận lũ lịch sử.
  • Chế độ dòng chảy mùa cạn trên sông Cái biến động ra sao trong tương lai? Trong khi dòng chảy mùa lũ tăng mạnh, dòng chảy các tháng mùa kiệt có xu hướng giảm sút hoặc biến động thất thường, khiến tỷ trọng nước mùa cạn chỉ còn khoảng 30% tổng lượng năm, làm gia tăng áp lực thiếu nước ngọt cho sinh hoạt và nông nghiệp.
  • Kịch bản RCP4.5 và RCP8.5 khác nhau như thế nào trong kết quả tính toán thủy văn? Kịch bản RCP4.5 thể hiện mức phát thải trung bình với lượng mưa 5 ngày lớn nhất tăng cao vào giữa thế kỷ (44,5%), trong khi kịch bản phát thải cao RCP8.5 thể hiện sự gia tăng lượng mưa mùa đông liên tục và mạnh mẽ nhất vào cuối thế kỷ (tăng 55,6%), tạo ra các đợt lũ cuối mùa đặc biệt nghiêm trọng.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập thành công mô hình SWAT 2012 với độ tin cậy cao trên lưu vực sông Cái Nha Trang, đạt chỉ số Nash-Sutcliffe tối ưu cho cả bước thời gian ngày và giờ.
  • Định lượng rõ nét mức tăng của lượng mưa 5 ngày lớn nhất (lên tới 44,5%) và lượng mưa mùa đông (lên tới 55,6%) theo các kịch bản RCP4.5 và RCP8.5.
  • Khẳng định xu thế dòng chảy mùa lũ và lưu lượng đỉnh lũ cực trị tại trạm Đồng Trăng gia tăng từ 15% đến trên 32%, đe dọa trực tiếp an toàn vùng hạ du.
  • Đề xuất khung giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, gắn liền với mốc thời gian thực thi cụ thể từ năm 2027 đến 2035.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng tích hợp mô hình SWAT với các mô hình thủy lực hai chiều (2D) để xây dựng bản đồ ngập lụt ngập úng chi tiết đến từng phường xã thuộc thành phố Nha Trang. Các nhà quản lý và nhà khoa học quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu tại Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội để phục vụ công tác nghiên cứu và triển khai thực tế.