Luận án: Đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ngành xây dựng tại các quận Hà Nội

Đánh giá mức độ hài lòng về dịch vụ hành chính công tại Hà Nội. Khám phá chất lượng, hiệu quả và những điểm cần cải thiện để phục vụ người dân tốt hơn.

Chuyên ngành

Khoa học Quản lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

141
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu quốc tế

1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam

1.3. Khoảng trống nghiên cứu

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG

2.1. Dịch vụ hành chính công

2.2. Dịch vụ công

2.3. Dịch vụ hành chính công

2.4. Chất lượng dịch vụ

2.5. Sự hài lòng của khách hàng

2.6. Sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công

2.7. Mô hình đánh giá sự hài lòng của khách hàng

2.8. Mô hình SERVQUAL

2.9. Mô hình SERVPERF

2.10. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TẠI CÁC QUẬN CỦA HÀ NỘI

3.1. Thực trạng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội

3.2. Quy định, chính sách liên quan đến dịch vụ hành chính công ở Hà Nội

3.3. Kết quả đánh giá của Hà Nội về chất lượng dịch vụ hành chính công

3.4. Kết quả đánh giá độc lập về chất lượng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội

3.5. Đánh giá chung về dịch vụ hành chính công ở Hà Nội

3.6. Thực trạng dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng tại các quận của Hà Nội

3.7. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng tại các quận của Hà Nội

3.8. Dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng thuộc thẩm quyền UBND các quận của Hà Nội

3.9. Đặc trưng của dịch vụ hành chính lĩnh vực xây dựng

3.10. Một số đánh giá độc lập về dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng ở Hà Nội

3.11. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TẠI CÁC QUẬN CỦA HÀ NỘI

4.1. Mô hình đánh giá

4.2. Khung mô hình

4.3. Các nhân tố chất lượng và tiêu chí thành phần từng nhân tố chất lượng

4.4. Cơ sở dữ liệu và phương pháp phân tích – đánh giá

4.5. Điều tra lấy ý kiến và lưu giữ dữ liệu

4.6. Phương pháp phân tích – đánh giá

4.7. Kết quả phân tích – đánh giá

4.8. Thống kê về đối tượng điều tra lấy ý kiến

4.9. Kiểm định mối liên hệ giữa đặc điểm cá nhân và ý kiến đánh giá

4.10. Kiểm tra điều kiện áp dụng EFA

4.11. Phân tích Nhân tố Khám phá (EFA)

4.12. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo

4.13. Chất lượng dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng tại các quận của Hà Nội

4.14. Quan hệ hồi quy tuyến tính giữa sự hài lòng chung và các nhân tố chất lượng

4.15. Tiểu kết chương 4

5. CHƯƠNG 5 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỐI VỚI DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TẠI CÁC QUẬN CỦA HÀ NỘI

5.1. Kinh nghiệm và bài học thực tế

5.2. Kinh nghiệm và bài học quốc tế

5.3. Kinh nghiệm và bài học trong nước

5.4. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng tại các quận của Hà Nội

5.5. Cơ sở và nguyên tắc

5.6. Khuyến nghị cụ thể

5.7. Tiểu kết chương 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội Tầm quan trọng chiến lược

Cải cách hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách mà mọi quốc gia, đặc biệt là Việt Nam, đều phải đối mặt. Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, theo ghi nhận, cải cách tại Việt Nam vẫn chủ yếu theo quan niệm truyền thống, đồng nhất với đơn giản hóa thủ tục, dẫn đến nhiều vấn đề tồn tại như trình độ cán bộ, quy trình rườm rà. Trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, quan niệm về cải cách đã thay đổi, hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng và đem lại sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức khi sử dụng dịch vụ. Mục tiêu này trở thành tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan, cán bộ hành chính nhà nước.

Thủ đô Hà Nội, với vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, cần thiết phải có những đổi mới về chất lượng dịch vụ hành chính công để duy trì và nâng cao sức cạnh tranh. Việc đáp ứng nhu cầu và đem lại sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn, cũng như từ nơi khác đến, cần được coi là mục tiêu phấn đấu của chính quyền các cấp. Đây không chỉ là yêu cầu của Đảng và Nhà nước mà còn là đòi hỏi chính đáng từ phía người dân. Nghiên cứu sâu rộng về mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội không chỉ lấp đầy khoảng trống lý luận mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc hoạch định chính sách, góp phần vào công cuộc cải cách hành chính Hà Nội một cách hiệu quả và bền vững. Việc đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội giúp định hướng các chính sách, giải pháp đúng đắn nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu, đòi hỏi của công dân, đặc biệt trong các lĩnh vực có tác động lớn như xây dựng. Luận án tiến sĩ của Cồ Như Dũng (2019) đã khẳng định tính cấp thiết của đề tài này, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, một 'điểm nóng' thu hút sự quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân và chính quyền.

1.1. Bối cảnh và sự cấp thiết của đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội

Cải cách hành chính là trọng tâm quốc gia. Tại Việt Nam, nó là ưu tiên hàng đầu, thể hiện qua Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020. Chương trình này bao gồm cải cách thể chế, bộ máy, công vụ, công chức và tài chính công (Đinh Duy Hòa, 2012). Tuy nhiên, cách tiếp cận truyền thống thường đồng nhất cải cách dịch vụ hành chính công với cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Cách tiếp cận này chưa giải quyết triệt để các vấn đề như trình độ cán bộ yếu, quy trình rườm rà, và khó khăn cho người dân. Sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội đã thay đổi nhận thức về cải cách. Mục tiêu chuyển dịch sang việc nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công và đem lại sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức. Đây trở thành tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan nhà nước. Hà Nội, với vị trí then chốt, cần đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội để duy trì và nâng cao sức cạnh tranh. Nghiên cứu này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, nơi mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.2. Mục tiêu chính của nghiên cứu Nâng cao mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội

Mục tiêu cốt lõi của việc đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội là xác định các yếu tố quyết định và từ đó đề xuất giải pháp nâng cao mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội. Nghiên cứu của Cồ Như Dũng (2019) cụ thể hướng đến việc khảo sát, đánh giá tổng quan các lý thuyết và thực tiễn, làm rõ các khái niệm về dịch vụ công, dịch vụ hành chính công và các quy định pháp lý liên quan đến lĩnh vực xây dựng tại Hà Nội. Một nhiệm vụ quan trọng là xây dựng mô hình đánh giá sự hài lòng phù hợp với điều kiện Việt Nam, không chỉ áp dụng máy móc các mô hình quốc tế. Từ dữ liệu thu thập, nghiên cứu xác định các yếu tố quyết định sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng và đề xuất hệ thống tiêu chí cần có. Các giải pháp được đưa ra nhằm tăng cường hiệu quả dịch vụ hành chính, góp phần vào cải cách hành chính Hà Nộiminh bạch dịch vụ công, mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội. Mục tiêu cuối cùng là đóng góp những phát hiện mới cả về lý luận và thực tiễn cho công tác quản lý nhà nước.

II. Thách thức lớn khi đo lường sự hài lòng dịch vụ hành chính công Hà Nội

Việc đo lường sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội đặt ra nhiều thách thức đáng kể, đặc biệt khi so sánh với các dịch vụ thương mại thông thường. Trong bối cảnh của một quốc gia đang chuyển đổi như Việt Nam, với trình độ nhận thức và khả năng tiếp cận thông tin của người dân còn nhiều khác biệt, việc đánh giá càng trở nên phức tạp. Luận án của Cồ Như Dũng (2019) chỉ ra rằng nền tảng chung của nhiều nghiên cứu quốc tế thường giả định người dân có kiến thức, trình độ cao và khả năng tự thực hiện quyền dân chủ, điều này có thể không hoàn toàn phù hợp với thực tế Việt Nam. Theo Almarshad (2015), có mối quan hệ chặt chẽ giữa trình độ nhận thức và sự hài lòng của người dân. Do đó, việc áp dụng các mô hình lý thuyết của thế giới một cách máy móc có thể dẫn tới sai lệch khi phản ánh thực tế Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu cũng thể hiện ở việc các công trình tại Việt Nam thường tập trung vào nghiên cứu định tính hoặc chỉ số hóa mà chưa dựa trên những lý thuyết, phát hiện mới về quản trị hành chính công và sự hài lòng của người dân. Chúng ít đề cập hoặc bỏ qua yếu tố quan trọng là vai trò và khả năng tham gia phản biện, đánh giá trực tiếp của người dân, doanh nghiệp, tổ chức đối với dịch vụ hành chính công. Hơn nữa, những yếu tố mang tính chủ quan như tâm lý, cảm nhận, quan điểm cá nhân của người dân, cùng với các yếu tố khách quan như quy trình giải quyết hồ sơ, thời gian giải quyết thủ tục hay thái độ phục vụ công chức Hà Nội, đều ảnh hưởng sâu sắc đến trải nghiệm người dân Hà Nộimức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội. Việc tổng hợp và phân tích các yếu tố này một cách khoa học là yêu cầu thiết yếu để có cái nhìn toàn diện và chính xác về chất lượng dịch vụ hành chính công tại Thủ đô. Nếu không có một phương pháp tiếp cận phù hợp, việc đánh giá chất lượng dịch vụ công sẽ không thể phản ánh đúng thực trạng và cung cấp cơ sở vững chắc cho các đề xuất cải cách.

2.1. Hạn chế của các phương pháp truyền thống trong đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công

Theo Sơn Ngọc (2015), cải cách dịch vụ hành chính ở Việt Nam mặc dù đạt được một số thành tựu, nhưng vẫn chưa giải quyết được nhiều vấn đề bản chất. Nguyên nhân chính là do cách tiếp cận truyền thống thường đồng nhất cải cách dịch vụ hành chính công với cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính công Hà Nội. Cách tiếp cận này bỏ qua nhiều khía cạnh quan trọng khác của chất lượng dịch vụ hành chính công như thái độ phục vụ công chức Hà Nội, minh bạch dịch vụ công, hay thời gian giải quyết thủ tục. Các nghiên cứu định tính chiếm đa số và các công trình chỉ số hóa gần đây (như của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam, Bộ Nội vụ) đã lượng hóa chất lượng bằng chỉ số, nhưng lại thường không dựa trên các lý thuyết quản trị hành chính công mới và sự hài lòng của người dân. Chúng tập trung vào một số tiêu chí cho trước nhưng ít đề cập đến vai trò tham gia, phản biện trực tiếp của người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Việc thiếu cơ sở lý luận vững chắc dẫn đến những hạn chế trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ công và khó khăn trong việc đưa ra các giải pháp cải thiện toàn diện, đúng trọng tâm.

2.2. Các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng trải nghiệm người dân Hà Nội

Mức độ hài lòng của người dân không chỉ phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ khách quan mà còn chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố chủ quan. Giả thuyết nghiên cứu của Cồ Như Dũng (2019) đã chỉ rõ: mức độ hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội phụ thuộc vào cả yếu tố chủ quan (nhận thức, hiểu biết, thông tin, thu nhập, đặc điểm cá nhân) và yếu tố khách quan (hình thức, chất lượng dịch vụ hành chính, điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội). Kenneth (2005) đã chứng minh 5 nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng dịch vụ công là kết quả thực hiện, thời gian giao dịch, trình độ cán bộ công chức, sự công bằng và sự chu đáo. Ngoài ra, niềm tin đối với chính phủ (Van de Walle & Bouckaert, 2003) hay các đặc điểm nhân chủng học, văn hóa, học vấn của người dân cũng đóng vai trò quan trọng. Để có cái nhìn chính xác về trải nghiệm người dân Hà Nội, việc phân tích mối liên hệ giữa các đặc điểm cá nhân với ý kiến đánh giá là rất cần thiết, giúp hiểu rõ hơn về sự khác biệt trong sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội giữa các nhóm đối tượng dân cư khác nhau.

III. Cách thức áp dụng mô hình SERVQUAL và SERVPERF để đo lường sự hài lòng dịch vụ công Hà Nội

Để có cái nhìn khoa học và chính xác về sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội, việc áp dụng các mô hình đánh giá đã được kiểm chứng trên thế giới là vô cùng cần thiết. Luận án của Cồ Như Dũng (2019) đã phân tích sâu sắc hai mô hình tiêu biểu là SERVQUAL và SERVPERF, đại diện cho hai cách tiếp cận chính trong đánh giá chất lượng dịch vụ công. Mô hình SERVQUAL, được phát triển bởi Parasuraman, Zeithaml và Berry vào cuối thập kỷ 1980, đầu thập kỷ 1990, là công cụ phổ biến nhất dựa trên sự khác biệt giữa mức kỳ vọng trước khi sử dụng dịch vụ và mức cảm nhận thực tế sau khi sử dụng dịch vụ. Nó tập trung vào 5 đặc trưng chất lượng dịch vụ: tính hữu hình, độ tin cậy, sự phản hồi, sự đảm bảo và sự thấu hiểu khách hàng. Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn nhiều tranh cãi về cấu trúc 5 yếu tố và cách đo lường sự khác biệt.

Ngược lại, mô hình SERVPERF, do Cronin & Taylor (1992) xây dựng, đại diện cho cách tiếp cận trực tiếp, chỉ dựa vào mức cảm nhận thực tế của khách hàng về dịch vụ. Mô hình này kế thừa 5 đặc trưng của SERVQUAL nhưng loại bỏ phần kỳ vọng, cho rằng cảm nhận thực tế là đủ để đánh giá chất lượng dịch vụ công hay sự hài lòng. Ưu điểm của SERVPERF là đánh giá trực tiếp và ít phụ thuộc vào yếu tố chủ quan. Tuy nhiên, nó lại không tính đến tác động cảm xúc và tâm lý của khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ. Đối với dịch vụ hành chính công, cả hai mô hình cần được điều chỉnh để phù hợp với đặc thù riêng biệt, như phục vụ số đông, không phân biệt đối xử và gắn với vai trò quản lý của nhà nước. Việc kết hợp ưu điểm của cả hai mô hình có thể tạo ra một công cụ đánh giá đáng tin cậy hơn cho khảo sát sự hài lòng người dân Hà Nội, đặc biệt trong bối cảnh các dịch vụ công thường được cung cấp đều đặn và ổn định, khiến mức trông đợi và cảm nhận thực tế của khách hàng có thể gần nhau.

3.1. Khám phá mô hình SERVQUAL trong khảo sát sự hài lòng người dân Hà Nội

Mô hình SERVQUAL là nền tảng cho nhiều nghiên cứu về sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội. Nó đề xuất 5 khác biệt chính dẫn đến sự không hài lòng của khách hàng, bao gồm: sự khác biệt giữa nhận định của nhà cung cấp về kỳ vọng của khách hàng với kỳ vọng thực tế của khách hàng; sự khác biệt giữa nhận định của nhà cung cấp về kỳ vọng và tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ; sự khác biệt giữa tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ và dịch vụ thực tế được cung cấp; sự khác biệt giữa chất lượng dịch vụ thực tế và thông tin truyền đạt ra ngoài; và cuối cùng là sự khác biệt giữa mức kỳ vọng và mức cảm nhận thực tế của khách hàng. Mô hình này tập trung vào 10 đặc trưng ban đầu, sau đó được rút gọn thành 5 đặc trưng chính: tính hữu hình, độ tin cậy, sự phản hồi, sự đảm bảo và sự thấu hiểu. Mỗi đặc trưng được đo bằng 22 tiêu chí. Tuy nhiên, Brysland & Curry (2001) cũng lưu ý rằng cấu trúc của mô hình gốc có thể cần điều chỉnh để phù hợp với những đặc trưng riêng của dịch vụ công khi thực hiện khảo sát sự hài lòng người dân Hà Nội.

3.2. Hiểu rõ mô hình SERVPERF và vai trò trong đánh giá chất lượng dịch vụ công

Mô hình SERVPERF, được Cronin & Taylor (1992) phát triển, là một cách tiếp cận khác để đánh giá chất lượng dịch vụ công, nhấn mạnh vào mức độ cảm nhận thực tế của khách hàng. SERVPERF sử dụng chính 22 tiêu chí thành phần của SERVQUAL nhưng loại bỏ yếu tố kỳ vọng, chỉ tập trung vào những gì khách hàng thực sự trải nghiệm. Ưu điểm nổi bật của SERVPERF là khả năng đo lường trực tiếp và phản ánh chân thực hơn chất lượng dịch vụ hành chính công dựa trên các tiêu chí khách quan như giá cả, sự chuyên nghiệp, thái độ phục vụ công chức Hà Nội. Cronin & Taylor (1992) đã chứng minh rằng việc đo lường không có trọng số (chỉ dựa trên quá trình cung ứng dịch vụ) phù hợp hơn và cho kết quả chính xác hơn so với SERVQUAL. Đối với các dịch vụ công, nơi quy trình giải quyết hồ sơthời gian giải quyết thủ tục thường được chuẩn hóa, SERVPERF có thể cung cấp một cái nhìn khách quan về hiệu quả hoạt động, giúp chính quyền dễ dàng xác định các điểm cần cải thiện để nâng cao mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội. Tuy nhiên, mô hình này thiếu đi việc phân tích sự chuyển biến trong cảm xúc và tâm lý khách hàng trước và trong quá trình sử dụng dịch vụ.

IV. Các yếu tố cốt lõi quyết định mức độ hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội

Việc xác định các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội là bước đi quan trọng để định hình các chiến lược cải thiện hiệu quả. Theo Kenneth (2005), 5 nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công bao gồm: kết quả thực hiện, thời gian giao dịch, trình độ cán bộ công chức, sự công bằng và sự chu đáo. Đây được coi là những yếu tố cơ bản quyết định chất lượng dịch vụ công (Rodriguez & cộng sự, 2009). Trong bối cảnh của Hà Nội, nơi dịch vụ hành chính công, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng, thường phức tạp và có nhiều bên liên quan, các yếu tố này càng trở nên quan trọng.

Cụ thể, thái độ phục vụ công chức Hà Nội là một trong những yếu tố được người dân đặc biệt quan tâm. Một thái độ thân thiện, chuyên nghiệp, nhiệt tình sẽ tạo ra trải nghiệm người dân Hà Nội tích cực, ngay cả khi quy trình vẫn còn một số hạn chế. Bên cạnh đó, minh bạch dịch vụ công thông qua việc công khai thông tin dịch vụ công về quy trình, thủ tục, chi phí, và thời gian giải quyết là điều kiện tiên quyết để xây dựng niềm tin. Sự phát triển của dịch vụ công trực tuyến Hà Nộibộ phận một cửa Hà Nội cũng đóng vai trò ngày càng lớn trong việc nâng cao sự tiện lợi và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục. Tuy nhiên, hiệu quả dịch vụ hành chính không chỉ dừng lại ở tốc độ mà còn ở chất lượng của kết quả cuối cùng. Việc thu thập phản hồi dịch vụ công một cách thường xuyên và nghiêm túc là cần thiết để các cơ quan nhà nước có thể liên tục cải tiến dịch vụ, đáp ứng tốt hơn mong đợi của người dân và doanh nghiệp.

4.1. Vai trò của thái độ phục vụ công chức Hà Nội và quy trình giải quyết hồ sơ

Trong đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội, thái độ phục vụ công chức Hà Nội là một yếu tố mang tính quyết định. Sự nhã nhặn, chuyên nghiệp và tận tình của cán bộ công chức giúp xây dựng lòng tin và sự thoải mái cho người dân, giảm bớt căng thẳng khi phải thực hiện các thủ tục hành chính công Hà Nội phức tạp. Bên cạnh đó, quy trình giải quyết hồ sơ cũng đóng vai trò then chốt. Một quy trình rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và nhất quán sẽ giúp người dân tiết kiệm thời gian giải quyết thủ tục và giảm thiểu phiền hà. Các cơ chế như cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã được Hà Nội áp dụng nhằm chuẩn hóa bộ thủ tục hành chính, nhưng vẫn cần tiếp tục cải thiện để tối ưu hóa trải nghiệm người dân Hà Nội. Việc thiếu hiểu biết hoặc năng lực đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ của cán bộ có thể dẫn đến sự khác biệt giữa tiêu chuẩn chất lượng và dịch vụ thực tế, ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội.

4.2. Minh bạch dịch vụ công và tầm quan trọng của dịch vụ công trực tuyến

Minh bạch dịch vụ công là trụ cột quan trọng trong việc xây dựng niềm tin và nâng cao sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội. Việc công khai thông tin dịch vụ công về các quy định, chính sách, quy trình, phí, lệ phí và thời gian giải quyết thủ tục giúp người dân chủ động hơn và giảm thiểu rủi ro tiêu cực. Nghị quyết số 05/2015/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội đã nhấn mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin dùng chung, đồng bộ, thông suốt nhằm phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và đặc biệt là phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp, đồng thời công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Dịch vụ công trực tuyến Hà Nội không chỉ giúp người dân tiếp cận dịch vụ mọi lúc mọi nơi mà còn góp phần giảm thiểu sự tiếp xúc trực tiếp, hạn chế tiêu cực và tăng cường tính khách quan. Sự phát triển của các dịch vụ công trực tuyến là một bước tiến quan trọng trong việc hiện đại hóa hành chính, nâng cao hiệu quả dịch vụ hành chínhmức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội.

V. Thực trạng và kết quả đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội Lĩnh vực xây dựng

Trong nhiều năm qua, cải cách hành chính Hà Nội luôn là ưu tiên hàng đầu của Thành ủy, Hội đồng nhân dân và UBND thành phố Hà Nội. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2015-2020 đã xác định rõ cải cách hành chính là một trong những khâu đột phá và nhiệm vụ trọng tâm. Đặc biệt, công tác lãnh đạo, chỉ đạo được thực hiện thống nhất, đồng bộ và quyết liệt trên toàn hệ thống chính trị và quản lý từ cấp thành phố đến cơ sở. Trong số các dịch vụ hành chính công, dịch vụ trong lĩnh vực xây dựng được coi là ưu tiên cải cách hàng đầu do mối liên hệ chặt chẽ với mọi đối tượng dân cư, tổ chức, doanh nghiệp và các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của Thủ đô.

UBND thành phố Hà Nội không chỉ tuân thủ các chủ trương, định hướng chung của cả nước mà còn chủ động tạo ra những đột phá riêng. Những tiêu chí mới dựa trên mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, cùng với các chỉ số đánh giá độc lập như Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index), và Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), đã được Hà Nội đặc biệt coi trọng. Hướng đi này được cụ thể hóa thông qua nhiều nghị quyết, chính sách và văn bản pháp lý. Ví dụ, Chương trình 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội khóa XVI đã nhấn mạnh các mục tiêu như cải cách thể chế, thủ tục hành chính công Hà Nội, bộ máy hành chính, và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Năm 2017 được xác định là 'Năm kỷ cương hành chính' với nhiều chỉ thị nhằm xây dựng nền hành chính hành động và phục vụ. Những nỗ lực này hướng tới việc nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính côngmức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội một cách toàn diện và bền vững. Việc đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng là rất cần thiết để nhìn nhận rõ hơn những thành tựu và thách thức.

5.1. Chính sách và nỗ lực cải cách hành chính Hà Nội

Cải cách hành chính Hà Nội được đẩy mạnh thông qua hàng loạt chính sách và nghị quyết. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng Bộ thành phố Hà Nội đã xác định cải cách hành chính là một trong ba khâu đột phá giai đoạn 2015-2020, nhằm tạo chuyển biến mạnh về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm và chất lượng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức. Chương trình 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội khóa XVI tập trung vào cải cách thể chế, thủ tục hành chính công Hà Nội, bộ máy, nâng cao chất lượng cán bộ và hiện đại hóa hành chính. Ứng dụng công nghệ thông tin được xem là phương tiện quan trọng, thể hiện qua Nghị quyết số 05/2015/NQ-HĐND về Chương trình mục tiêu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới dịch vụ công trực tuyến Hà Nộiminh bạch dịch vụ công. Năm 2017, UBND thành phố Hà Nội ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND về việc tổ chức thực hiện 'Năm kỷ cương hành chính 2017', tổng rà soát và hoàn thiện các văn bản pháp luật, quy trình, quy chế làm việc để nâng cao hiệu quả dịch vụ hành chínhsự hài lòng của người dân.

5.2. Chỉ số hài lòng SIPAS Hà Nội và đánh giá độc lập về dịch vụ xây dựng

Để có cái nhìn khách quan về mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội, các chỉ số đánh giá độc lập như Chỉ số hài lòng SIPAS Hà Nội (Sự phục vụ hành chính công) đóng vai trò quan trọng. Dữ liệu từ Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) và Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) cũng được Hà Nội sử dụng để đánh giá hiệu quả cải cách. Luận án của Cồ Như Dũng (2019) đã sử dụng phương pháp định lượng hiện đại để đánh giá sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng tại các quận. Nghiên cứu đã xác định các yếu tố chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân, đồng thời so sánh mức độ hài lòng giữa các đối tượng dân cư khác nhau (nghề nghiệp, thu nhập, giới tính, tuổi tác). Kết quả này cung cấp một bức tranh toàn diện về chất lượng dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng, giúp UBND thành phố Hà Nội nhận diện các vấn đề còn tồn tại và đề xuất giải pháp cụ thể nhằm nâng cao trải nghiệm người dân Hà Nội và chỉ số SIPAS Hà Nội.

VI. Hướng đi mới nâng cao sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội trong kỷ nguyên số

Để tiếp tục nâng cao sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội, các cơ quan chức năng cần định hình một hướng đi mới, ưu tiên phát triển trong kỷ nguyên số. Mục tiêu không chỉ là đáp ứng mà còn phải vượt qua kỳ vọng của người dân, doanh nghiệp, tổ chức. Điều này đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa việc cải thiện các yếu tố truyền thống và khai thác triệt để tiềm năng của công nghệ thông tin. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tương tác với người dân trước, trong và sau khi sử dụng dịch vụ hành chính công nhằm đem lại sự thấu hiểu, tin cậy, thoải mái ngày càng có vai trò quan trọng (Cồ Như Dũng, 2019). Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu thập và phân tích phản hồi dịch vụ công một cách liên tục và có hệ thống.

Các giải pháp cần tập trung vào việc tiếp tục đơn giản hóa quy trình giải quyết hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, đồng thời nâng cao năng lực và thái độ phục vụ công chức Hà Nội. Đặc biệt, vai trò của dịch vụ công trực tuyến Hà Nội cần được đẩy mạnh hơn nữa, không chỉ ở mức độ cung cấp thông tin mà còn ở khả năng thực hiện toàn bộ thủ tục trực tuyến, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân. Việc công khai thông tin dịch vụ công và tăng cường minh bạch dịch vụ công qua các nền tảng số là chìa khóa để xây dựng niềm tin và sự hài lòng. Hơn nữa, việc xây dựng một mô hình đánh giá lai, kết hợp ưu điểm của SERVQUAL và SERVPERF, như đề xuất của luận án tiến sĩ (Cồ Như Dũng, 2019), hứa hẹn mang lại những đóng góp lý luận và thực nghiệm quan trọng, phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Sự phát triển bền vững của chất lượng dịch vụ hành chính công tại Hà Nội sẽ là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

6.1. Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả dịch vụ hành chính

Để tăng cường hiệu quả dịch vụ hành chínhsự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội, cần triển khai một loạt giải pháp đồng bộ. Trước hết, cần tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, bộ thủ tục hành chính công Hà Nội theo hướng đơn giản, dễ hiểu và thuận tiện cho người dân. Việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức công vụ và thái độ phục vụ công chức Hà Nội là yếu tố then chốt. Đảm bảo đủ nguồn lực và công cụ nghiệp vụ để thể hiện tiếng nói của khách hàng trong tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ hành chính công. Ngoài ra, cần thiết lập các kênh tiếp nhận phản hồi dịch vụ công hiệu quả, công khai và minh bạch, đồng thời xử lý nghiêm túc các ý kiến đóng góp. Đặc biệt, việc đẩy mạnh cải cách hành chính Hà Nội theo hướng ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong mọi khâu của quy trình giải quyết hồ sơ sẽ giúp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và nâng cao minh bạch dịch vụ công, từ đó cải thiện mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội một cách rõ rệt.

6.2. Triển vọng dịch vụ công trực tuyến Hà Nội và xu hướng phát triển bền vững

Triển vọng của dịch vụ công trực tuyến Hà Nội là rất lớn, không chỉ giúp nâng cao mức độ hài lòng dịch vụ công Hà Nội mà còn định hình xu hướng phát triển bền vững cho nền hành chính. Theo Nghị quyết số 05/2015/NQ-HĐND, Hà Nội đặt mục tiêu xây dựng hệ thống công nghệ thông tin dùng chung, đồng bộ, thông suốt để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành và đặc biệt là người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Dịch vụ công trực tuyến giúp người dân tiếp cận các thủ tục hành chính công Hà Nội một cách dễ dàng hơn, giảm bớt việc đi lại và chờ đợi tại bộ phận một cửa Hà Nội. Điều này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn tăng cường sự minh bạch dịch vụ công và khả năng giám sát của người dân. Với việc liên tục đầu tư vào hạ tầng số và đào tạo cán bộ, dịch vụ công trực tuyến Hà Nội sẽ trở thành động lực chính trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công, tạo ra một nền hành chính hiện đại, linh hoạt và lấy người dân làm trung tâm, góp phần đáng kể vào sự hài lòng dịch vụ hành chính công ở Hà Nội.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cải cách hành chính là một trong những trọng tâm mà mọi quốc gia đều phải đối mặt và giải quyết. Ở Việt Nam cũng vậy, cải cách hành chính là một trong những ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 (Chính phủ, 2011, 2013) xác định nội dung cải cách có phạm vi rộng, toàn diện, có sự tham gia bởi tất cả các cấp, các ngành, thể hiện qua 4 điểm chủ đạo: cải cách thể chế, cải cách bộ máy hành chính, cải cách công vụ và công chức, cải cách tài chính công (Đinh Duy Hòa, 2012).

Phân cấp, cơ chế một cửa hay một cửa liên thông, chuẩn hóa bộ thủ tục hành chính, tin học hóa được áp dụng trong nhiều loại hình dịch vụ hành chính công là những ví dụ điển hình của nền hành chính giai đoạn mới, khác hẳn với sự phức tạp, phiền nhiễu của thời kỳ bao cấp, kế hoạch hóa (Bộ Nội vụ, 2011). Qua đó, vai trò quan trọng của cải cách nền hành chính nói chung, dịch vụ hành chính công nói riêng đối với phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam được đặc biệt nhấn mạnh (Bộ Tư pháp, 2014). Những địa phương thành công nhất trong phát triển kinh tế - xã hội cũng là những địa phương mạnh dạn, quyết tâm nhất trong cải cách dịch vụ hành chính. Tuy nhiên, về cơ bản, cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam vẫn được tiến hành theo cách hiểu và quan niệm truyền thống.

Theo đó, cải cách dịch vụ hành chính công hay được đồng nhất với cải cách thủ tục hành chính và đơn giản hóa thủ tục hành chính. Cách tiếp cận truyền thống này có lẽ là một trong những nguyên nhân chính làm cho cải cách dịch vụ hành chính ở Việt Nam mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định nhưng vẫn không giải quyết được nhiều vấn đề lớn, bản chất như trình độ cán bộ hành chính còn yếu; quy định, quy trình, thủ tục hành chính còn rườm rà, mâu thuẫn; người dân, tổ chức, doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, phiền nhiễu (Sơn Ngọc, 2015). Cùng với đổi mới thể chế, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân và nhất là cách mạng công nghệ thông tin, do tác dụng truyền thông nhanh chóng, mạnh mẽ của internet, mạng xã hội, quan niệm về cải cách dịch vụ hành chính công đã có sự thay đổi về chất so với quan niệm truyền thống, đặc biệt ý kiến của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức đối với các vấn đề dịch vụ hành chính công được coi trọng và xử lý nghiêm túc hơn. Trong bối cảnh này, cải cách dịch vụ hành chính công dần hướng đến mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng, đem lại sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệp, tổ chức khi sử dụng dịch vụ hành chính công; nó 2 cũng trở thành tiêu chí để đánh giá kết quả hoạt động của các cơ quan, cán bộ hành chính nhà nước.

Đơn giản hóa là mục tiêu như trước đây giờ chỉ là phương tiện. Wang & Gianakis (1999), Kelly & Swindell (2002), Van Ryzin và cộng sự (2004) đã chỉ rõ có xu hướng chuyển dịch trong việc đo lường hiệu quả hoạt động của các cơ quan công quyền từ tự đánh giá sang đánh giá khách quan từ bên ngoài. Trên thế giới, nghiên cứu về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công đã có những bước tiến dài thời gian qua, cả về mặt lý luận lẫn thực nghiệm. Vấn đề này đã được các học giả phân tích, tìm hiểu từ lăng kính của nhiều ngành, môn khoa học, nhờ đó đem lại cách nhìn tổng thể, toàn diện về sự hài lòng, thỏa mãn của người dân trong mối quan hệ với việc cung ứng dịch vụ hành chính công của chính quyền.

Dựa trên đó, chính quyền có thể xây dựng các chính sách, giải pháp đúng đắn nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu, đòi hỏi của công dân. Tuy nhiên, nền tảng chung mà các nghiên cứu này thường giả định là từ các nước phát triển nơi người dân có kiến thức, trình độ cao, được cung cấp đầy đủ thông tin và có khả năng tự thực hiện quyền dân chủ. Khảo sát các nghiên cứu về lĩnh vực này trên thế giới cho thấy hiện chưa có công trình mang tính lý luận nào về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công ở những nước chuyển đổi với hệ thống chính trị đặc trưng như Việt Nam. Chẳng hạn Almarshad (2015) đã tổng kết và minh họa có mối quan hệ chặt chẽ giữa trình độ nhận thức và sự hài lòng của người dân.

Việt Nam mặc dù có sự chuyển biến lớn trong nâng cao trình độ giáo dục, văn hóa cho người dân nhưng nhìn chung vẫn ở mặt bằng thấp so với thế giới, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa và nhóm dân cư có thu nhập thấp. Vai trò chủ động của người dân trong đổi mới, cải cách dịch vụ hành chính công mặc dù được coi trọng nhưng vẫn chủ yếu bằng các khẩu hiệu, chưa thực sự phát huy tác dụng. Vì vậy, đây là một khoảng trống về mặt lý luận mà các học giả có thể khai thác. Trong khi đó khảo sát sơ bộ ở Việt Nam cho thấy nghiên cứu có liên quan đến dịch vụ hành chính công dường như bị đóng khung vào lịch sử, hoàn cảnh và cách hiểu của Việt Nam.

Phần lớn trong số chúng là các nghiên cứu định tính. Những công trình chỉ số hóa được quan tâm và có tác dụng rộng gần đây (như của Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam, Bộ Nội vụ.) đã khắc phục hạn chế của những nghiên cứu định tính trước đó bằng việc lượng hóa đánh giá chất lượng của dịch vụ hành chính bằng những chỉ số (hoặc bộ chỉ số) cụ thể. Nhờ đó có thể dễ dàng so sánh các loại hình dịch vụ hành chính khác nhau cũng như giữa các đơn vị, cơ quan thực thi. Tuy nhiên, điểm chung của tất cả các nghiên cứu này là chỉ mới phản ánh thực tế qua thực nghiệm và không dựa trên những lý thuyết, phát hiện mới về quản trị hành chính công cũng như sự hài lòng của người dân.

Chúng chưa đưa ra được cơ sở và phát hiện về mặt lý 3 luận của việc áp dụng các công cụ nghiên cứu mới. Các nghiên cứu mới tập trung đánh giá khảo sát ý kiến của người dân, doanh nghiệp, tổ chức về một số tiêu chí cho trước nhưng thường ít đề cập hoặc bỏ qua yếu tố quan trọng nhất là vai trò và khả năng tham gia phản biện, đánh giá trực tiếp của người dân, doanh nghiệp, tổ chức đối với dịch vụ hành chính công. Tới nay mới chỉ có một số ít các nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của người dân hay doanh nghiệp đối với dịch vụ công hành chính công trên cơ sở các mô hình lý thuyết của thế giới về vấn đề này. Tuy nhiên, giống với các nghiên cứu đề cập trên đây, chúng vẫn chưa đưa ra phát hiện, đóng góp về mặt lý luận về sự hài lòng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp đối với dịch vụ hành chính công, nhất là trong bối cảnh của Việt Nam.

Việc áp dụng các mô hình lý thuyết của thế giới vì vậy dễ dẫn tới những sai lệch khi phản ánh thực tế Việt Nam. Để bổ sung vào sự thiếu hụt này cho các nghiên cứu học thuật của thế giới cũng như Việt Nam và để đóng góp định hướng cải cách hành chính ở Việt Nam, việc nghiên cứu về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công có một ý nghĩa quan trọng. Thực tế Việt Nam thời gian qua cho thấy có sự cạnh tranh ngày càng cao giữa các địa phương trên cả nước trong thu hút đầu tư, nhân tài, cải thiện môi trường kinh doanh. Cải cách dịch vụ hành chính công vì sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp là hướng tiếp cận mà nhiều nơi áp dụng.

Thủ đô Hà Nội có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị, kinh tế - xã hội của cả nước, rất cần có những đổi mới cần thiết về chất lượng dịch vụ hành chính công để duy trì và nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh, khả năng thu hút của mình. Đáp ứng được nhu cầu, đem lại sự hài lòng cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp trên địa bàn cũng như từ nơi khác đến trong sử dụng dịch vụ hành chính công cần được coi là mục tiêu phấn đấu của chính quyền các cấp thành phố Hà Nội. Trong số các dịch vụ hành chính công, dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng vẫn là điểm nóng được sự quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức và chính quyền do chúng liên quan trực tiếp và có vị trí quan trọng đặc biệt quan trọng trong cuộc sống, hoạt động của tất cả các tầng lớp nhân dân và tổ chức, doanh nghiệp. Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu về sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp, tổ chức đối với các dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng có ý nghĩa lý luận và thực tế lớn.

Với những lý do trên đây, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Đánh giá sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công: Trường hợp dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng tại các quận của Hà Nội”. 4 Nghiên cứu này nếu thành công sẽ tạo cơ sở để mở rộng ra nhiều loại hình dịch vụ hành chính công khác phạm vi toàn quốc cũng như nhiều cấp địa phương. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá sự hài lòng của người dân Thủ đô đối với dịch vụ hành chính công tại các quận trong lĩnh vực xây dựng thông qua mô hình với một số đóng góp về lý luận và phù hợp với điều kiện thực tế ở Hà Nội, và từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của người dân Thủ đô đối với dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực xây dựng tại các quận tại Hà Nội. Cụ thể, nghiên cứu được tiến hành với những nhiệm vụ sau đây: - Khảo sát, đánh giá tổng quan về các nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công, từ đó tìm ra khoảng trống về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực học thuật này.

- Làm rõ các khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến hành chính công như: dịch vụ công, dịch vụ hành chính công .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ