Đánh giá sự hài lòng của người bán thuốc với công việc tại một số nhà thuốc trên địa bàn hà nội

Đánh giá sự hài lòng của người bán thuốc tại các nhà thuốc Hà Nội, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến công việc và môi trường làm việc.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

79
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Vài nét về hoạt động của NBT tại các nhà thuốc

1.2. Một số khái niệm

1.3. Yêu cầu đối với NBT trong thực hành nghề nghiệp tại các nhà thuốc

1.4. Sự hài lòng và hài lòng của NBT với công việc tại nhà thuốc

1.4.1. Một số khái niệm và tầm quan trọng của sự hài lòng với công việc

1.4.2. Một số lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng

1.4.2.1. Lý thuyết nhu cầu theo cấp bậc của Abraham Maslow
1.4.2.2. Thuyết E.G của Alderfer
1.4.2.3. Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg
1.4.2.4. Mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Mẫu nghiên cứu

2.4.3. Phương pháp thu thập dữ liệu

2.4.4. Xử lý và phân tích số liệu

2.4.5. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu

3.2. Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu

3.3. Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của NBT với công việc tại nhà thuốc

3.4. Phân tích mức độ hài lòng của NBT với công việc tại nhà thuốc

3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hài lòng công việc của NBT

3.6. Mức độ hài lòng của NBT với từng nhân tố

3.7. Các đặc điểm NBT ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc tại nhà thuốc

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá sự hài lòng của người bán thuốc tại Hà Nội

Đánh giá sự hài lòng của người bán thuốc (NBT) tại Hà Nội là một vấn đề quan trọng trong ngành dược. Sự hài lòng không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc mà còn tác động đến chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của NBT và phân tích mức độ hài lòng của họ với công việc tại các nhà thuốc.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của sự hài lòng trong công việc

Sự hài lòng trong công việc được định nghĩa là cảm giác yêu thích công việc và các khía cạnh liên quan. Theo Spector (1997), sự hài lòng công việc có thể xem như một chỉ số tốt về hiệu quả làm việc của nhân viên. Mức độ hài lòng cao giúp tăng cường động lực làm việc và giảm tỷ lệ nghỉ việc.

1.2. Tình hình hiện tại của người bán thuốc tại Hà Nội

Tại Hà Nội, NBT đang đối mặt với nhiều thách thức trong công việc, bao gồm áp lực từ khối lượng công việc và yêu cầu cao từ khách hàng. Nghiên cứu cho thấy rằng sự hài lòng của NBT tại đây còn thấp hơn so với các quốc gia khác, điều này cần được xem xét và cải thiện.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bán thuốc

Nghiên cứu đã xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của NBT, bao gồm điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ và mối quan hệ với đồng nghiệp. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến cảm giác hài lòng mà còn tác động đến hiệu quả công việc và chất lượng dịch vụ.

2.1. Điều kiện làm việc và sự hài lòng

Điều kiện làm việc là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hài lòng của NBT. Một môi trường làm việc an toàn và thoải mái sẽ giúp NBT cảm thấy hài lòng hơn với công việc của mình.

2.2. Chế độ đãi ngộ và sự hài lòng

Chế độ đãi ngộ, bao gồm lương và thưởng, là yếu tố quyết định đến sự hài lòng của NBT. Nghiên cứu cho thấy rằng NBT thường cảm thấy không hài lòng với mức lương hiện tại, điều này ảnh hưởng đến động lực làm việc của họ.

2.3. Mối quan hệ với đồng nghiệp và khách hàng

Mối quan hệ tốt với đồng nghiệp và khách hàng có thể tạo ra một môi trường làm việc tích cực, từ đó nâng cao sự hài lòng của NBT. Sự hỗ trợ và hợp tác giữa các nhân viên là rất cần thiết để cải thiện chất lượng dịch vụ.

III. Phương pháp nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của người bán thuốc

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm khảo sát và phỏng vấn sâu. Dữ liệu được thu thập từ hơn 300 NBT tại các nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội, nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và mẫu nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp định lượng, với mẫu nghiên cứu là NBT tại các nhà thuốc. Số lượng mẫu đủ lớn để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp. Các câu hỏi được thiết kế để đánh giá mức độ hài lòng của NBT với các yếu tố khác nhau trong công việc.

IV. Kết quả nghiên cứu về sự hài lòng của người bán thuốc

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mức độ hài lòng của NBT tại Hà Nội còn thấp, với nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng chưa được cải thiện. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của NBT.

4.1. Phân tích mức độ hài lòng của người bán thuốc

Mức độ hài lòng của NBT được phân tích dựa trên các yếu tố như điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ và mối quan hệ với đồng nghiệp. Kết quả cho thấy rằng NBT cảm thấy không hài lòng với mức lương và điều kiện làm việc hiện tại.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng

Nghiên cứu đã xác định rằng các yếu tố như khối lượng công việc, sự hỗ trợ từ đồng nghiệp và chế độ đãi ngộ có ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của NBT. Những yếu tố này cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ.

V. Kết luận và đề xuất cho tương lai

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng sự hài lòng của NBT tại Hà Nội cần được cải thiện thông qua việc nâng cao điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ. Các nhà thuốc cần chú trọng đến việc tạo ra môi trường làm việc tích cực để nâng cao sự hài lòng của NBT.

5.1. Đề xuất cải thiện sự hài lòng của người bán thuốc

Để nâng cao sự hài lòng của NBT, các nhà thuốc cần cải thiện điều kiện làm việc, tăng cường chế độ đãi ngộ và tạo ra môi trường làm việc tích cực. Điều này không chỉ giúp nâng cao sự hài lòng mà còn cải thiện chất lượng dịch vụ.

5.2. Tương lai của nghiên cứu về sự hài lòng của người bán thuốc

Nghiên cứu về sự hài lòng của NBT cần được tiếp tục để theo dõi sự thay đổi theo thời gian. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp cải thiện đã được đề xuất.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Vài nét về hoạt động của NBT tại các nhà thuốc 1. Một số khái niệm Người bán lẻ thuốc (NBT): là người phụ trách chuyên môn về dược và nhân viên làm việc tại cơ sở bán lẻ thuốc có bằng cấp chuyên môn được đào tạo về dược phù hợp với loại hình và phạm vi hoạt động của cơ sở [2]. Người phụ trách chuyên môn có bằng tốt nghiệp đại học ngành dược, phải có Chứng chỉ hành nghề dược theo quy định hiện hành [2].

Người chịu trách nhiệm chuyên môn về dược của nhà thuốc phải thực hành một trong các nội dung thực hành chuyên môn sau: Bán buôn, bán lẻ thuốc; xuất nhập khẩu thuốc; dược lâm sàng, cung ứng thuốc trong cơ sở khám chữa bệnh; sản xuất thuốc; kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc; nghiên cứu dược; bảo quản thuốc; phân phối thuốc; quản lý dược tại cơ quan quản lý về dược [1]. Yêu cầu đối với NBT trong thực hành nghề nghiệp tại các nhà thuốc Theo thông tư số 02/2018/TT-BYT ngày 22/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế yêu cầu trong thực hành nghề nghiệp đối với NBT tại các nhà thuốc như sau [2]: a) Đối với người làm việc trong cơ sở bán lẻ thuốc [2]: - Có thái độ hòa nhã, lịch sự khi tiếp xúc với người mua thuốc, bệnh nhân; - Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin và lời khuyên đúng đắn về cách dùng thuốc cho người mua hoặc bệnh nhân và có các tư vấn cần thiết nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả; - Giữ bí mật các thông tin của người bệnh trong quá trình hành nghề như bệnh tật, các thông tin người bệnh yêu cầu; - Trang phục áo blu trắng, sạch sẽ, gọn gàng, có đeo biển ghi rõ tên, chức danh; - Thực hiện đúng các quy chế dược, tự nguyện tuân thủ đạo đức hành nghề dược; - Tham gia các lớp đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn và pháp luật y tế; b) Đối với người quản lý chuyên môn [2]: - Giám sát hoặc trực tiếp tham gia việc bán các thuốc phải kê đơn, tư vấn cho người mua. - Chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp việc pha chế thuốc theo đơn tại nhà thuốc - Liên hệ với bác sĩ kê đơn trong các trường hợp cần thiết để giải quyết các tình huống xảy ra. - Kiểm soát chất lượng thuốc mua về, thuốc bảo quản tại nhà thuốc.

- Thường xuyên cập nhật các kiến thức chuyên môn, văn bản quy phạm pháp luật về hành nghề dược và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng thuốc. 3 - Đào tạo, hướng dẫn các nhân viên tại cơ sở bán lẻ về chuyên môn cũng như đạo đức hành nghề dược. - Cộng tác với y tế cơ sở và nhân viên y tế cơ sở trên địa bàn dân cư, tham gia cấp phát thuốc bảo hiểm, chương trình, dự án y tế khi đáp ứng yêu cầu, phối hợp cung cấp thuốc thiết yếu, tham gia truyền thông giáo dục cho cộng đồng về các nội dung như: tăng cường chăm sóc sức khỏe bằng biện pháp không dùng thuốc, cách phòng tránh, xử lý các bệnh dịch, chăm sóc sức khỏe ban đầu, các nội dung liên quan đến thuốc và sử dụng thuốc và các hoạt động khác. - Theo dõi và thông báo cho cơ quan y tế về các tác dụng không mong muốn của thuốc.

- Phải có mặt trong toàn bộ thời gian hoạt động của cơ sở. Trường hợp người quản lý chuyên môn vắng mặt phải ủy quyền bằng văn bản cho người có Chứng chỉ hành nghề dược phù hợp để chịu trách nhiệm chuyên môn theo quy định. Sự hài lòng và hài lòng của NBT với công việc tại nhà thuốc 1. Một số khái niệm và tầm quan trọng của sự hài lòng với công việc Spector (1997) cho rằng sự hài lòng công việc đơn giản là sự yêu thích công việc và các khía cạnh công việc, khi đó sự hài lòng được xem dưới góc độ hành vi.

Hài lòng công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh cụ thể hoặc hài lòng chung với công việc [26]. Một số tác giả khác cho rằng sự hài lòng với công việc được xem là do ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân người lao động hoặc các tác động của tổ chức đối với các cảm nhận về công việc [21]. Một số nhà nghiên cứu lý luận cho rằng có thể đạt được một mức độ hài lòng về công việc chỉ với một vấn đề. Một số khác gợi ý chúng ta có thể có những cảm xúc tiêu cực về một khía cạnh nào đó của công việc (như tiền lương) nhưng lại có cảm xúc tích cực về những mặt khác (như đồng nghiệp).

Sự hài lòng với công việc cần được xem xét ở cả hai mặt nguyên nhân và ảnh hưởng của các thay đổi về tổ chức [9]. Như vậy có thể thấy rằng, hài lòng với công việc là khái niệm không thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, lý giải riêng thông qua các công trình nghiên cứu của họ. Tuy nhiên, ở mức độ tương đối, có thể khái quát những quan điểm đó như sau: hài lòng công việc là cảm giác yêu thích công việc ở các khía cạnh cụ thể hoặc hài lòng công việc chung, nó bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân người lao động hoặc các tác động của tổ chức nơi người lao động làm việc.

Sự hài lòng với công việc của người lao động có vai trò quan trọng trong quản trị nhân lực của một tổ chức, ảnh hưởng tới tinh thần, thái độ làm việc, lòng trung thành và năng suất lao động, hiệu quả công việc của người lao động. 4 Spector (1997) liệt kê ba vai trò quan trọng của sự hài lòng với công việc đó là: đầu tiên, đánh giá sự hài lòng với công việc có thể xem như là một chỉ số tốt về hiệu quả của nhân viên. Mức độ hài lòng cao về công việc thể hiện trạng thái tinh thần làm việc hăng say nhiệt tình của nhân viên. Thứ hai, hài lòng với công việc sẽ dẫn tới hành vi tích cực của nhân viên và ngược lại, sự không hài lòng từ công việc sẽ dẫn tới hành vi tiêu cực và sự rời bỏ của nhân viên khỏi tổ chức.

Thứ ba, sự hài lòng công việc là một trong những tiêu chí đánh giá sự thành công của tổ chức trong quản trị nhân lực. Thông qua các hình thức đánh giá sự hài lòng khác nhau, mức độ hài lòng trong tổ chức có thể là khác nhau, nhưng là dấu hiệu tốt để qua đó thúc đẩy những thay đổi trong quản trị nhân lực [7]. Một số lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng Để hiểu sự hài lòng của NLĐ được cấu thành từ những yếu tố nào, cần phải có cái nhìn tổng quan từ các lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng và sự phát triển của chúng qua thời gian. a) Lý thuyết nhu cầu theo cấp bậc của Abraham Maslow Con người có cảm giác hài lòng khi các nhu cầu trong cuộc sống được đáp ứng.

Tuy nhiên, nhu cầu của con người lại có nhiều cấp độ khác nhau. Cụ thể, 5 cấp bậc ấy là: nhu cầu sinh lý; nhu cầu an toàn; nhu cầu xã hội (nhu cầu mối quan hệ, tình cảm), nhu cầu được kính trọng và nhu cầu thể hiện bản thân [18]. Tháp nhu cầu Maslow Ứng dụng tháp nhu cầu Maslow để làm tăng mức độ hài lòng của nhân viên là cách để khai thác và sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả, bằng cách đi tìm nguyên nhân chính tạo nên ý định nghỉ việc và bỏ việc. Alderfer Giống như lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow, Thuyết E.

Alderfer có ba cấp độ nhu cầu khác nhau: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ, nhu cầu 5 phát triển, nhưng chúng có thể xuất hiện cùng lúc, đồng thời nhu cầu này có thể bù đắp cho nhu cầu kia nếu nhu cầu đó chưa thỏa mãn người lao động [31].G của Alderfer Lý thuyết E.G của Alderfer được ứng dụng trong đo lường mức độ hài lòng của người lao động dưới 03 khía cạnh về nhu cầu: tồn tại, quan hệ và phát triển. c) Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg Năm 1959, Frederick Herzberg đã đưa ra thuyết hai nhân tố. Ông chia các nhu cầu của con người theo 2 loại độc lập và có ảnh hưởng tới hành vi con người theo những cách khác nhau [13]. Ông đã phân thành 2 nhóm nhân tố: - Các nhân tố liên quan đến sự thỏa mãn đối với công việc được gọi là nhân tố động viên (nhân tố bên trong).

- Các nhân tố liên quan đến bất mãn được gọi là nhân tố duy trì (nhân tố bên ngoài) Bảng 1. Đặc điểm nhân tố động viên và nhân tố duy trì của thuyết Frederick Herzberg [13] Nhân tố động viên Nhân tố duy trì (Motivation Factor) (Hygiene Factor)  Đạt kết quả mong muốn  Chế độ chính sách của tổ chức  Sự thừa nhận của tổ chức, lãnh  Thu nhập đạo và đồng nghiệp  Phương pháp giám sát  Trách nhiệm  Điều kiện làm việc  Sự tiến bộ, thăng tiến trong nghề  Quan hệ với đồng nghiệp nghiệp  An toàn  Sự tăng trưởng như mong muốn  Công việc Khi phối hợp nhân tố động viên và nhân tố duy trì  Động viên tốt + duy trì tốt = tình huống lý tưởng, nhân viên được động viên nhiều, có ít phàn nàn.  Động lực kém + duy trì tốt = tình huống nhân viên có ít phàn nàn nhưng 6 không được động viên. Công việc chỉ nhận đúng tiền lương.

 Động lực tốt + duy trì kém = tình huống nhân viên được động viên nhiều nhưng cũng có nhiều phàn nàn. Tiền lương và điều kiện làm việc không tương xứng.  Động lực kém + duy trì kém = Tình huống xấu nhất, nhân viên không được động viên, có rất nhiều phàn nàn. Đối với các nhân tố động viên nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn từ đó động viên người lao động làm việc tích cực chăm chỉ hơn.

Nếu không được giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không thỏa mãn. Trong khi đó đối với các nhân tố duy trì nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nếu giải quyết tốt sẽ tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc có tình trạng thỏa mãn. d) Mô hình đặc điểm công việc của Hackman&Oldham Mô hình đặc điểm công việc của Hackman và Oldham tạo ra động lực làm việc từ bản chất bên trong để có hiệu quả công việc tốt nhất. Mô hình có 5 đặc điểm cốt lõi: sự đa dạng kỹ năng, hiểu công việc, công việc có ý nghĩa, quyền quyết định và thông tin phản hồi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ