ĐẶT VẤN ĐỀ Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, người dân thường tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các nhà thuốc tư nhân do khả năng tiếp cận, sự thuận tiện cũng như khả năng chi trả. Dược sĩ cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sử dụng thuốc an toàn và phù hợp, cung cấp lời khuyên về các triệu chứng phổ biến và tham gia vào việc tăng cường sức khỏe cho người bệnh [1]. Sự hài lòng công việc được cho là một trong những yếu tố liên quan đến hiệu quả công việc và ý định chuyển nghề của nhân viên [2]. Với công việc đặc thù chuyên môn như nhân viên y tế hay người bán lẻ thuốc (NBT), việc nâng cao sự hài lòng trong công việc không những dẫn đến năng suất cao hơn mà còn tăng chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và sự hài lòng của người bệnh.
Ngoài ra, nâng cao sự hài lòng trong công việc của dược sĩ nhằm giảm thiểu tình trạng chuyển việc, bỏ việc và đặc biệt là giảm gánh nặng chi phí tuyển dụng, đào tạo, do đó các đơn vị sử dụng lao động rất quan tâm đến vấn đề này [3]. Trên thế giới, một số nghiên cứu đã cho thấy sự hài lòng trong công việc của dược sĩ tại nhà thuốc ở các quốc gia là khác nhau [4]. Nghiên cứu được thực hiện tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe khác nhau ở Riyadh, Ả Rập Xê Út cho thấy chỉ 39,0% dược sĩ hài lòng với công việc hiện tại của họ [5]. Trong khi đó, dược sĩ cộng đồng tại Malaysia hài lòng với công việc ở mức tương đối cao (77,0%).
Dược sĩ làm việc tại khu vực công lập tại Malaysia có mức hài lòng thấp hơn, chỉ 52% người khảo sát hài lòng với công việc hiện tại [4]. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bán lẻ thuốc với công việc đã được ghi nhận bao gồm khối lượng công việc, người giám sát/ cách thức quản lý, đồng nghiệp, cơ hội thăng tiến và thu nhập [6-9]. Tại Việt Nam, số lượng nhà thuốc ngày càng phát triển với hơn 50 nghìn nhà thuốc. Số lượng người bán lẻ thuốc làm việc tại các nhà thuốc tương đối lớn và có vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng dịch vụ dược của nhà thuốc.
Năm 2022, nghiên cứu đầu tiên thực hiện đánh giá mức độ hài lòng của người bán lẻ 1 thuốc với công việc tại Hà Nội cho thấy mức hài lòng chung với công việc chỉ đạt 3,97/5,0 điểm tối đa. Trong đó nhân tố chế độ lương, thưởng có mức điểm hài lòng thấp nhất đạt 3,69/5,0 điểm và cao nhất là nhân tố về điều kiện làm việc (4,21/5,0 điểm) [10]. Tuy nhiên, nghiên cứu trên chưa chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng chung của người bán lẻ thuốc. Đồng thời, trên thực tế mức độ hài lòng của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên các địa phương khác vẫn chưa có nhiều thông tin.
Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá sự hài lòng của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc” được thực hiện với mục tiêu như sau: 1. Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc 2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới sự hài lòng của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc năm 2022 Từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc, cung cấp sự hiểu biết cũng như cơ sở dữ liệu cho người quản lý nhân sự, doanh nghiệp và cơ quan quản lý dược trong việc cải thiện chất lượng làm việc, nâng cao chất lượng dịch vụ, chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh và doanh thu của nhà thuốc. Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng với công việc 1.
Một số khái niệm và vai trò của sự hài lòng với công việc Theo Herzberg (1959): mức độ hài lòng của người lao động là mức độ yêu thích công việc hay cố gắng duy trì làm việc của người lao động thể hiện qua sự nhận thức (tích cực hoặc tiêu cực hoặc kết hợp tích cực và tiêu cực) về các khía cạnh khác nhau trong công việc ảnh hưởng đến bản thân họ [11]. Spector (1997) cho rằng sự hài lòng công việc đơn giản là sự yêu thích công việc và các khía cạnh công việc, khi đó sự hài lòng được xem dưới góc độ hành vi. Hài lòng công việc cũng được xem như việc hài lòng với các khía cạnh cụ thể hoặc hài lòng chung với công việc [2]. Một số tác giả khác cho rằng, sự hài lòng trong công việc là thước đo sự hài lòng của nhân viên với công việc của họ và các khía cạnh hoặc khía cạnh khác nhau của nó.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, sự hài lòng trong công việc của nhân viên đối với động lực của họ và mức độ động lực ảnh hưởng đến hiệu suất và năng suất trong một tổ chức [8]. Sự hài lòng với công việc của người lao động có vai trò quan trọng trong quản trị nhân lực của một tổ chức, ảnh hưởng tới tinh thần, thái độ làm việc, lòng trung thành và năng suất lao động, hiệu quả công việc của người lao động… 1. Một số lý thuyết nghiên cứu về hài lòng công việc Để hiểu sự hài lòng của người lao động được cấu thành từ những yếu tố nào, cần phải có cái nhìn tổng quan từ các lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng và sự phát triển của chúng qua thời gian. a) Lý thuyết nhu cầu theo cấp bậc của Abraham Maslow (1943) Theo nhà tâm lý học người Hoa Kỳ con người có cảm giác hài lòng khi các nhu cầu trong cuộc sống được đáp ứng.
Tuy nhiên, nhu cầu con người lại có nhiều cấp độ khác nhau. Cụ thể, tác giả đã chỉ ra 5 cấp bậc ấy là: nhu cầu sinh lý; nhu 3 cầu an toàn; nhu cầu xã hội (nhu cầu mối quan hệ, tình cảm); nhu cầu được kính trọng và nhu cầu thể hiện bản thân [12]. Tháp nhu cầu Maslow [12] Ứng dụng tháp nhu cầu Maslow để làm tăng mức độ hài lòng của nhân viên là cách để khai thác và sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả, bằng cách đi tìm nguyên nhân chính tạo nên ý định nghỉ việc và bỏ việc. b) Mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham: Mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham tạo ra động lực công việc từ bản chất bên trong để có hiệu quả công việc tốt nhất.
Mô hình có 5 đặc điểm cốt lõi: sự đa dạng kỹ năng, hiểu công việc, tầm quan trọng, quyền quyết định và phản hồi. Những đặc điểm cốt lõi này tác động lên ba trạng thái tâm lý: hiểu được ý nghĩa công việc, trách nhiệm đối với kết quả công việc và nhận thức về kết quả thực sự của công việc, từ trạng thái tâm lý này sẽ mang lại các kết quả cho cá nhân và công việc [13]. Mô hình đặc điểm công việc của Hackman & Oldham [13] Mô hình đặc điểm công việc trên được ứng dụng trong đo lường mức độ thỏa mãn của người lao động nhằm tạo động lực làm việc. Từ một số lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng được trình bày ở trên cho thấy mỗi nhà nghiên cứu khác nhau có sự phân tích theo các khía cạnh khác nhau về sự hài lòng.
Xét về tổng thể, cơ sở lý thuyết nghiên cứu có thể tóm lược trên hai nhóm khía cạnh đánh giá về sự hài lòng của người lao động đối với tổ chức sau đây: - Nhóm khía cạnh tích cực: đánh giá về sự hài lòng, động lực làm việc, nhu cầu tăng trưởng của người lao động - Nhóm khía cạnh tiêu cực: đánh giá về bất mãn công việc, duy trì làm việc để tồn tại, áp lực công việc của người lao động 5 1. Một số bộ công cụ đánh giá mức độ hài lòng trong công việc Thông qua các cơ sở lý thuyết về sự hài lòng công việc. Các nhà nghiên cứu đã xây dựng các tiêu chí nhằm tạo ra bộ công cụ đánh giá mức độ hài lòng công việc trong một số trường hợp sau: a) Chỉ số mô tả công việc (JDI) của Smith, Kendall và Hulin (1969) Smith và cộng sự của trường Đại học Cornell đã xây dựng chỉ số mô tả công việc JDI và được đánh giá rất cao trong lý thuyết và thực tiễn [14]. Mô hình JDI đánh giá sự hài lòng công việc của người lao động thông qua 5 thang đo nhân tố là: 1.
Bản chất công việc 2. Cơ hội đào tạo và thăng tiến 3. Thu nhập Mỗi thang đo nhân tố đưa ra các nội dung tiêu biểu nhằm đánh giá theo khía cạnh riêng. Chỉ số mô tả công việc (JDI) đã được sử dụng trong hơn 1.000 nghiên cứu ở các tổ chức trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Mặc dù được đánh giá cao về lý luận và thực tiễn nhưng JDI cũng có những điểm yếu: - Trước hết, việc sử dụng bộ câu hỏi với 72 mục hỏi bị xem là quá dài gây khó khăn cho việc điều tra lấy dữ liệu. - Thứ hai, dạng câu hỏi trả lời trong mô hình JDI ban đầu là câu hỏi trả lời có – không , không đánh giá được nhiều mức độ hải lòng khác nhau. - Thứ ba, trong JDI không có câu hỏi đánh giá sự hài lòng tổng thể của người lao động. Ngày nay, nghiên cứu sự hài lòng với công việc được thực hiện rất rộng trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội và các nhà nghiên cứu sử dụng mô hình JDI điều 6 chỉnh với các mục hỏi được thiết kế ở dạng thang đo Likert giúp ích cho việc đánh giá được nhiều mức độ cảm nhận của người lao động [15].
b) Tiêu chí đo lường hài lòng MSQ của Weiss và cộng sự (1967) Các nhà nghiên cứu Weiss và đồng nghiệp đưa ra các tiêu chí đo lường sự thỏa mãn công việc thông qua bảng câu hỏi thỏa mãn MSQ (Minnesota Satisfaction Questionnaire) [16], đưa ra 2 khía cạnh phân tích thang đo nhân tố : - Các nhân tố thỏa mãn thuộc bản chất bên trong gồm 100 mục với mỗi khía cạnh sẽ được đo lường bởi 5 biến; - Các nhân tố thỏa mãn thuộc bản chất bên ngoài gồm 20 mục (ứng với 20 yếu tố) đánh giá mức độ hài lòng chung về mỗi khía cạnh. - Ngoài ra, đưa ra tiêu chí chung để đo lường mức hài lòng của người lao động.