CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ VÀ ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng số. Ngân hàng số là xu thế phát triển của ngành ngân hàng trong thời đại 4.0 được đông đảo các NHTM, Chính phủ và cơ quan quản lý tại các quốc gia trên thế giới thừa nhận và quan tâm.
Đã có nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng số bởi mỗi đối tượng khác nhau ngân hàng số mang ý nghĩa khác nhau. Theo Moeckel (2013), Ngân hàng số là một lĩnh vực mới trong lĩnh vực ngân hàng điện tử. NHS nhằm mục đích nâng cao tiêu chuẩn của các dịch vụ ngân hàng điện tử bằng cách tích hợp các công nghệ số như các thiết bị phân tích chiến lược, kết nối mạng trực tuyến, giải pháp sáng tạo, công nghệ di động và tập trung vào trải nghiệm của người dùng tại các ngân hàng. Theo Gaurav Sarma (2017) Ngân hàng số là một lĩnh vực ngân hàng số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ.
Nói cách khác tất cả các dịch vụ khách hàng có thể thực hiện ở các chi nhánh được số hóa và tích hợp vào một Ngân hàng số duy nhất, thông qua ứng dụng này, khách hàng có thể không cần đến trực tiếp ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện các giao dịch, nghiệp vụ ngân hàng. Đồng thời, các hoạt động của ngân hàng như quản lý rủi ro, nguồn vốn, phát triển sản phẩm, marketing, quản lý bán hàng … cũng được số hóa. Theo quyết định số 488/QĐ - Ngân hàng Nhà Nước ngày 27/03/2017 của Thống đốc NHNN về Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin của các Tổ chức tín dụng giai đoạn 2017-2020 thì NHS là mô hình ngân hàng hoạt động dựa trên nền tảng quy trình công nghệ để cung cấp toàn bộ các dịch vụ cho khách hàng thông qua thiết bị số kết nối với môi trường mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc chi nhánh tự phục vụ. Các dịch vụ ngân hàng điện tử bao gồm (các dịch vụ Internet Banking, SMS banking và mobile banking) chỉ là kênh cung cấp dịch vụ cho khách hàng dựa trên nền tảng quy trình nghiệp vụ xử lý hiện có của ngân hàng.
3 Ngân hàng số (hay Digital Banking) là một hình thức ngân hàng mà tất cả các hoạt động giao dịch được thực hiện mọi lúc mọi nơi ngay trên các thiết bị thông minh có kết nối mạng Internet. Với Ngân hàng số các khách hàng có thể thực hiện các giao dịch mà không cần chuẩn bị các giấy tờ cũng như không phải trực tiếp ra ngân hàng. Ngân hàng số có thể hiểu là khái niệm rộng hơn, bao quát hơn, toàn diện hơn. Nó không phải là ngân hàng điện tử e-banking hay ngân hàng trực tuyến- internetbanking.
Ngân hàng số (digital banking) như là một cấp độ phát triển mới, cao hơn trong hoạt động ngân hàng với đặc trưng nổi bật là tất cả các quan hệ giao tiếp với khách hàng (front-end) cũng như quy trình xử lý nội bộ (back-end) đều được thực hiện trên nền tảng, các kênh số cùng với sự hỗ trợ của các mô hình kinh doanh mới, công nghệ số, giải pháp sáng tạo. Các giao dịch khách hàng có thể dễ dàng thực hiện ngay trên nền tảng số mà không cần tới ngân hàng như các dịch vụ ngân hàng truyền thông như: 1. Chuyển tiền, rút tiền không cần thẻ. Thanh toán hóa đơn điện tử.
Gửi tiền tiết kiệm. Tham gia các sản phẩm đầu tư/ bảo hiểm. Quản lí thẻ, tài khoản, theo dõi hồ sơ giao dịch. Vay ngân hàng/ mở thẻ tín dụng… 8.
Thanh toán thuế…. Vai trò của dịch vụ ngân hàng số. NHS được xây dựng trên nền tảng công nghệ kĩ thuật hiện đại đem lại những trải nghiệm dịch vụ vượt trội so với dịch vụ ngân hàng truyền thống. Do đó hoạt động NHS đóng vai trò rất qua trọng đối với nền kinh tế cũng như với khách hàng và chính bản thân các NHTM.
a) Đối với nền kinh tế. Hiện nay nền kinh tế số đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, do đó mọi hoạt động, ngành nghề số đều đóng vai trò quan trọng tác động đến nền hinh tế hiện nay: Ngân hàng số phát triển trở thành tiền đề thúc đẩy hoạt động của cả hệ thống ngân hàng cũng như cả nền kinh tế đi lên. Mọi số liệu sẽ được số hóa giúp cho việc 4 tiếp cận các dữ liệu được nhanh chóng chính xác hơn, từ đó tạo điề u kiện cho các hoạt động thương mại khách được tiến hành thuận tiện hơn và ngày càng đi lên. Hoạt động ngân hàng số nền kinh tế tăng cường luân chuyển nguồn vốn, tạo cơ sở và thúc đẩy sử phát triển của hoạt động thương mại điện tử, giảm lưu thông tiền mặt.
Từ đó nguồn vốn trong nền kinh tế sẽ được tận dụng 1 cách tối đa và hiệu quả nhất đến với các chỉ thể kinh tế cần thiết. Ngân hàng số là cầu nối kết nối các chủ thể trong nền kinh tế 1 cách thuận lợi dễ dàng, nhanh chóng hơn. Các chủ thể sẽ có thể trao đổi với nhau 1 cách thuận tiện hơn, rõ ràng hơn. Từ đó giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển hơn.
b) Đối với khách hàng. Ngân hàng số ngày càng phát triển mạnh mẽ thì khách hàng sẽ là người được hưởng lợi nhiều nhất bởi những tiện ích mà Ngân hàng số mang lại cho người dùng là không thể phủ nhận và nó đóng vai trò vô cùng quan trọng. Ngân hàng số giúp các khách hàng của ngân hàng được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ một cách nhanh chóng thuận tiện hơn ngay trên các thiết bị thông minh ở mọi lúc mọi nơi mà không cần đến ngân hàng giao dịch giống như khi sử dụng dịch vụ ngân hàng truyền thống. Ngân hàng số giúp người dùng tiết kiệm được nhiều thời gian tiền bạc khi các giao dịch onl đa số đều được miến phí.
Hiện nay để tăng cương trải nghiệm cũng như thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng nên nhiều NHTM đã tiến hành miễn phí phí các giao dịch và phí dịch vụ khách cho khách hàng. Gíup người dùng tăng thêm trải nghiệm khi thực hiện các giao dịch ngân hàng đồng thời nâng cao tính bảo mật thông tin của các giao dịch. c) Đối với ngân hàng thương mại. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống các ngân hàng ngày mạnh mẽ do đó chuyển đổi số đóng vai tro lớn đối với ngân hàng trong việc phát triển hoạt động và quy mô ngân hàng.
Ngân hàng số giúp các ngân hàng tiếp cận khách hàng một cách đơn giản dễ dàng hơn từ đó làm tăng được số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Dễ dàng đổi mới phát triển các sản phẩm dịch vụ phù hợp với từng các khách hàng cá nhân khác nhau và làm tăng khả năng cạnh tranh với ngân hàng khác. 5 Dễ dàng kiểm tra các hoạt động giao dịch, nâng cao tính bảo mật từ đó hạn chế được cá rủi ro như các hoạt động giao dịch truyền thống. Ngân hàng số giúp cho các ngân hàng giảm thiểu được các chi phí liên quan đến giao dịch.
Ngân hàng số giúp các ngân hàng nhận biết và cải thiện những tồn tại về chất lượng dịch vụ từ đó đem lại các trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ. Lý thuyết về sự hài lòng a) Khái niệm. Khái niệm về sự hài lòng hiện nay đang có rất nhiều tranh luận xung quanh và nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ.
Sự hài lòng hoặc sự thất vọng của khách hàng là sự phản ánh qua việc so sánh giữa mong đợi của họ trước khi sử dụng với cảm nhận nhờ việc trải nghiệm thực tế sau khi sử dụng về sản phẩm, dịch vụ - theo Fornell (1995). Theo Kotler ( 2000), sự hài lòng chính là cảm giác hài lòng hay bất mãn của người dùng qua việc đánh giá sự khác biệt giữa những gì thực chất họ nhận được khi so sánh với những gì đã mong đợi. Sự hài lòng của khách hàng là biểu hiện cảm xúc của khách hàng dành cho nhà cung cấp, hoặc một động thái đối với trải nghiệm sử dụng một dịch vụ, sản phẩm nào đó qua so sánh sự khác biệt giữa những gì kì vọng đó trước và những gì họ nhận lại có thực sự đã đáp ứng mong muốn, nguyện vọng hay nhu cầu không (theo Hansemark và Albinsson ,2004). Như vậy, sự hài lòng của khách hàng là những quan điểm cảm nhận dựa vào trải nghiệm riêng của bản thân đối với việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ.
Sự hài lòng này được tạo nên khi khách hàng tham gia mua sắm và dùng nhiều loại sản phẩm, dịch vụ tương tự. Qua những trải nghiệm này, khách hàng sẽ cân đo đong đếm giữa thực tiễn và mong đợi rồi đưa ra nhận định riêng của mình về sự hài lòng. b) Phân loại 6 Theo nghiên cứu của Bernd Stauss và Patricia Neuhaus(1997) thì sự hài lòng của khách hàng được phân thành 3 loại là hài lòng tích cực, hài lòng ổn định, hài lòng thụ động và chúng có tác động khác nhau đến nhà cung cấp dịch vụ. Hài lòng tích cực( Demanding customer satisfaction).
Theo nghiên cứu của Bernd Stauss và Patricia Neuhaus thì hài lòng tích cực là sự hài lòng mang tính tích cực và được phản hồi qua các nhu cầu sử dụng ngày càng 1 tăng lên đối với nhà cung cấp dịch vụ. Đối với khách hàng có sự hài lòng tích cực,họ và nhà cung cấp dịch vụ có mối quan hệ tốt đẹp, tín nhiệm lẫn nhau và cảm thấy hài lòng khi giao dịch. Đồng thời nhà cung cấp dịch vụ sẽ ngày càng cố gắng nỗ lực cải tiến chất lượng dịch vụ, chính điều đó đã sẽ càng tăng thêm sự hài lòng của khách hàng. Đây có thể được coi là nhóm khách hàng trung thành của nhà cung cấp nếu họ cảm thấy nhà cung cấp đang nỗ lực tích cực cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ cho khách hàng.
Hài lòng ổn định. Đối với những khách hàng có sự hài lòng ổn định, họ sẽ cảm thấy thoải mái và hài lòng với những gì đang diễn ra và không muốn có sự thay đổi trong cách cung cấp dịch vụ của nhà cung cấp.Vì vậy nhóm những khách hàng này tỏ ra dễ chịu, có sự tin tưởng cao với nhà cung cấp và sẵn sàng tiếp tục sử dụng dịch vụ.