Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ - Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ 1.
Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ 1. Dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong ngành marketing và kinh doanh. Có rất nhiều khái niệm dùng để định nghĩa về dịch vụ, có thể khái quát như sau: Theo Zeithaml và Britner (2000) thì “ Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng” Theo Philip Kotler (2001) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.
Theo Luật Giá (2012): Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo Philip Kotler, Marketing căn bản – Nguyên lý tiếp thị, NXB.TP Hồ Chí Minh, 2013 thì cho rằng “Dịch vụ là mọi biện pháp lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không nhìn thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó”. Từ các quan điểm khác nhau trên, thì dịch vụ có thể định nghĩa như sau: “Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh trong các sản phẩm vô hình nhằm đáp ứng, thõa mãn nhu cầu sinh hoạt và sản xuất hằng ngày của con người” 1.
Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác. Những đặc tính khác biệt này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và 6 khó nhận dạng bằng mắt thường. - Tính vô hình: Dịch vụ nói chung và dịch vụ truyền hình nói riêng không có hình dáng cụ thể, không thể cầm nắm, cân đong, đo đếm như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể kiểm định, thử nghiệm chất lượng sản phẩm trước khi mua nhưng đối với sản phẩm dịch vụ thì khách hàng không thể đánh giá như thế.
Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. - Tính không đồng nhất: Trong khi các ngành sản xuất hàng hóa hữu hình cho ra đời một khối lượng hàng hóa được chuẩn hóa tốt nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn đã được ấn định trước thì phần lớn các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ tạo ra những dịch vụ cùng loại nhưng không đồng nhất với nhau. Dịch vụ được thực hiện sẽ khác nhau đối với từng nhà cung cấp, từng khách hàng vào từng thời điểm cụ thể. - Tính không thể tách rời: Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng.
Dịch vụ được tạo ra và sử dụng đồng thời. Vì vậy, sự tương tác giữa bên cung cấp và bên nhận dịch vụ có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng dịch vụ. - Tính không lưu giữ được: Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp.
Nó được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. Khi mà nhu cầu ổn định, tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề. Tuy nhiên, khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. - Tính không thể chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua.
Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Dịch vụ viễn thông: “Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa hai 7 hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. Dịch vụ viễn thông cũng là một trong các loại hình dịch vụ với đầy đủ các đặc trưng của dịch vụ gồm: Tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không tồn trữ được, tính không đồng nhất, tính không chuyển quyền sở hữu được. Chính vì thế, việc tìm hiểu về sự cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ viễn thông cũng là một trong các vấn đề khó khăn đối với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông.
Dịch vụ FiberVNN FiberVNN là dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao của VNPT cung cấp. Đây là một dịch vụ mới mang tính đột phá – dịch vụ truy nhập Internet Siêu tốc độ dựa trên công nghệ cáp quang FTTH. Với dịch vụ này, các nhu cầu về truyền tải dữ liệu, truy nhập tốc độ cao với băng thông rộng được đáp ứng một cách hoàn hảo nhất, với chi phí hợp lý nhất. Đây là công nghệ tiên tiến hiện nay và đang được các quốc gia trên thế giới tin dùng.
Một số tiện ích dịch vụ FiberVNN: Triển khai bằng cáp quang nên có chất lượng tốt hơn cáp đồng, giảm thiểu xung nhiễu và ảnh hưởng của thiên tai, không bị suy hao tín hiệu bởi nhiễu điện từ, thời tiết hay chiều dài cáp. - Băng thông đối xứng, truy nhập trực tiếp 24/24, tốc độ truy cập cao hơn gấp 200 lần so với công nghệ ADSL, nhà cung cấp dịch vụ có thể cung cấp tốc độ download lên đến 10 Gigabit/giây. - Khách hàng có thể cấp quyền cho phép các thành viên truy nhập vào hệ thống mạng LAN của tổ chức để khai thác dịch vụ. - Đường truyền có tốc độ ổn định; Độ bảo mật rất cao.
- An toàn cho thiết bị, không sợ sét đánh lan truyền trên đường dây. - Nâng cấp băng thông dễ dàng mà không cần kéo cáp mới. Ứng dụng của dịch vụ FiberVNN: - Kết nối mạng LAN/WAN. - Gọi điện thoại qua Internet.
- Giáo dục và đào tạo từ xa: Khách hàng có thể tham dự các khóa học từ xa 8 được tổ chức bởi các trường đại học tên tuổi trên thế giới hoặc truy cập vào các thư viện điện tử trên mạng nhanh hơn. - Khách hàng có thể truy cập những website thiết kế với chất lượng cao, dùng flash, nhạc nền, nhiều hình động… - Khách hàng có thể nghe và xem trực tuyến các bài hát, bản tin, phim ảnh… từ khắp mọi nơi trên thế giới, cho phép tải và đưa dữ liệu lên mạng nhanh hơn. - Hội thảo video qua mạng: Kết hợp với webcam, FiberVNN sẽ giúp khách hàng đàm thoại với bạn bè, người thân hay đối tác kinh doanh qua Internet với âm thanh và hình ảnh chất lượng cao. - Bên cạnh, đáp ứng cao những ứng dụng của ADSL, Fiber VNN áp dụng công nghệ FTTH, đặc biệt hiệu quả với các dịch vụ: Hosting Server riêng, VPN (mạng riêng ảo), Truyền dữ liệu, Game Online, IPTV (truyền hình tương tác), VoD (xem phim theo yêu cầu), Video Conferrence (hội nghị truyền hình), IP Camera… 1.
Chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ a. Chất lượng dịch vụ Theo Parasuraman & ctg (1988, 1991), định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ” Theo Lưu Văn Nghiêm (2001), Marketing trong kinh doanh dịch vụ, Nhà xuất bản thống kê: “Chất lượng dịch vụ là mức độ hài lòng của khách hàng trong quá trình cảm nhận, tiêu dùng dịch vụ, là dịch vụ tổng hợp của doanh nghiệp mang lại chuỗi lợi ích và thỏa mãn đầy đủ nhất giá trị mong đợi của khách hàng trong hoạt động sản xuất cung ứng và trong phân phối dịch vụ ở đầu ra.” Theo quan điểm Nguyễn Thượng Thái (2007), Quản trị marketing dịch vụ: “Chất lượng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thõa mãn nhu cầu của khách hàng”. Do vậy, chất lượng được xác định bởi khách hàng, như khách hàng mong muốn Vậy, chất lượng dịch vụ được xem là những gì mà khách hàng cảm nhận được.
Mỗi khách hàng có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên sự cảm nhận về 9 chất lượng dịch vụ cũng khác nhau. Chất lượng dịch vụ là việc các nhà cung cấp dịch vụ đáp ứng mức độ nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng đối với dịch vụ đó. Vì thế, chất lượng dịch vụ chủ yếu do khách hàng xác định, mức độ hài lòng của khách hàng càng cao thì chất lượng dịch vụ càng tốt. Chính vì chất lượng dịch vụ do khách hàng quyết định nên sẽ mang tính chất chủ quan, chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào mức độ nhu cầu và mong đợi của khách hàng, vì vậy mỗi khách hàng sẽ có những cảm nhận khác nhau, dẫn đến chất lượng cũng khác nhau.
Chất lượng dịch vụ viễn thông Trong lĩnh vực viễn thông, theo điều 4 của Thông tư 05/VBHN-BTTTT của Bộ TTTT quy định về quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp viễn thông phải: “Thực hiện việc công bố chất lượng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các dịch vụ viễn thông thuộc “Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng”, mức chất lượng công bố không được trái với mức quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia” và “Tự công bố chất lượng theo tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng đối với các dịch vụ viễn thông không thuộc “Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng” trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp viễn thông. Đặc điểm chất lượng dịch vụ: - Tính vượt trội: Đối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện được tính vượt trội, tính “ưu việt” của mình so với những sản phẩm khác.